Home / Ôn thi môn Ngữ văn / Ngữ văn lớp 10 / Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) – Văn mẫu lớp 10

Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) – Văn mẫu lớp 10

Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) – Bài số 1

Tỏ lòng là những tâm sự của một vị tướng trung quân ái quốc, ông đã lập được rất nhiều chiến công trên chiến trường. Không những thế ông có những quan điểm sống vô cùng tích cực về công danh của chí làm trai. Có lẽ nói đến đây thì chúng ta đã biết đó là ai. Đúng vậy đó chính là Phạm Ngũ Lão. Đối với ông mà nói những gì ông làm, những chiến thắng mà ông đạt được không to chút nào. Bài thơ tỏ lòng hay chính tiếng lòng của nhà thơ và phải nói rằng chính bài thơ đã làm cho người ta gọi ông thêm một chức danh nữa đó chính là nhà thơ.

Bài thơ tỏ lòng thể hiện rõ hào khí Đông A. Tất cả những dáng vóc con người cho đến hào khí mạnh mẽ đều thể hiện sức mạnh của con người cũng như quân đội nhà Trần. Bài thơ chỉ có bốn câu thơ thôi nhưng vừa thể hiện được sức mạnh của quân đội nhà Trần, những ý chí của con người nhà Trần vừa thể hiện được những tâm sự từ tận sau đáy lòng Phạm ngũ Lão.

Hai câu thơ đầu mang đến cho ta những vẻ đẹp của con người nhà Trần từ vẻ đẹp của con người cá thể đến vẻ đẹp của tập thể quân đội. Qua đó ta thêm tự hào về những sức mạnh ý chí của quân đội ta:

“Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu, 
Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu. ”
(Múa giáo non sông trải mấy thu 
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)

Hai câu thơ như vẽ lên những hình ảnh của những người anh hùng đầu đội trời chân đạp đất không những hiên ngang mà còn bất khuất kiên cường. Trước tiên thì đó là vẻ đẹp của người anh hùng với cây giáo trong tay mình. Nhà thơ là một vị tướng quân vì thế cho nên qua câu thơ ta cảm nhận được cái người cầm giáo non sông kia chính là ám chỉ chính ông. Đối với Phạm Ngũ Lão mà nói thì cuộc sống của ông là phải cầm giáo để chấn an những quân xâm lược những kẻ bạo tàn giúp cho đất nước được yên ồn, nhân dân được thái bình. Hai chữ “hoành sóc” như thể hiện sự hiên ngang ấy, thế nhưng ở bản dịch lại làm giảm đi ý nghĩa của hai chữ hoành sóc ấy. Múa giáo không thể nào lột tả được hết cái dũng mãnh của hai chữ “hoành sóc”. Không những thế thì cầm ngang ngọn giáo thể hiện sự trấn an quốc gia sông núi hơn là múa giáo. Không những thế mà hình ảnh người anh hùng hiên ngang ấy lại còn cầm ngọn giáo ấy trong tay trải qua biết bao nhiêu thời gian để đánh giặc. Ngọn giáo ấy được đo bằng không gian non sông đất nước và chiều dài của lịch sử. Hình như giáo cũng có không gian sinh thành và có tuổi đời như chúng ta vậy.

Đến câu thơ thứ hai trong hai câu thơ đầu thì chúng ta lại thấy được một khí thế hào hùng như hổ báo át hết tất cả những gì cản trên đường họ:

“Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

Có thể hiểu là khí thế quân đội nhà trần lấn át cả ao Ngưu trên trời và cũng có thể hiểu là có thể nuốt trôi một con trâu. Khí phách ấy giống như một con hổ lớn có thể nuốt hết tất cả những tên giặc kia nếu chúng không chịu rút quân về nước. Binh tốt không những phải giỏi mà còn phải có một tinh thần tốt thì mới chiến thắng được. Cách hiểu thứ hai là khí chí của quân đội nhà trần khiến  át đi cả sao Ngưu Vương. Dù  hiểu theo cách nào đi nữa thì chúng ta đều biết được khí phách của quân đội nhà Trân là rất lớn.

Nếu như hai câu thơ đầu nhà thơ nói đến vẻ đẹp của quân đội nhà Trần tỏ rõ hào khí Đông A thì đến hai câu thơ sau nhà thơ thể hiện nỗi lòng của mình:

“Nam nhi vị liễu công danh trái, 
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu. ”
(Công danh nam tử còn vương nợ 
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu).

Nói chung câu thơ kia là quan niệm về chí làm trai của nhà thơ trong cuộc sống này. Có thể nói chí làm trai ấy là một quan niệm chung cho tất cả những người anh hùng thời ấy. Nguyễn Công Trứ cũng từng nói:

“Đã có tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông”

Đối với nhà thơ mà nói những gì ông làm cho đất nước chưa thấm thoát gì vì thế cho nên công danh nam tử còn đang vương nợ. Đó là cái nợ cho đất nước, là cái nợ với vua. Thế nên khi nghe thuyết kể về Vũ Hầu một người quân thần tài giỏi thì tác giả hãy còn e thẹn. Ta như khâm phục trước những phấn đấu của ông trong cuộc đời. Đối với chúng ta ông đã là người có tài lắm rồi nhưng đối với ông thì như thế vẫn là chưa đủ. Cuộc đời nam tử với ông phải làm được nhiều hơn thế mới xứng đáng là nam tử.

Qua đây ta thấy được tấm lòng trung quân ái quốc cùng vẻ đẹp hiên ngang mà nhà thơ thể hiện trong bài Thuật Hoài này. Hào khí Đông A như được thể hiện rõ hơn, đó là hào khí của một thời oanh liệt. Đồng thời Phạm Ngũ lão đã xây dựng được một hình ảnh những con người nhà trần khỏe mạnh hết lòng vì tổ quốc vì nhân dân.

Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) – Bài số 2

Phạm Ngũ Lão là một trong những danh tướng lập nhiều chiến công hiển hách nhất của nhà Trần. Không chỉ có tài về quân sự, mà ông còn để lại nhiều bài thơ về chí trai, lòng yêu nước. Tiếc là hiện nay tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài là Thuật hoài (Tỏ lòng) và Vãn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương (Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương). Tỏ lòng là bài thơ ngắn gọn, đạt đến độ súc tích cao, khắc họa đậm nét vẻ đẹp của con người có sức mạnh, có lý tưởng, có nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại.

Mở đầu bài thơ, tác giả đã dựng lên bức tượng đài của người anh hùng với tư thế hiên ngang, tầm vc lớn lao, kì vĩ ngang tầm vũ trụ:

Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

(Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân hùng khí át sao Ngưu)

Con người ấy bao năm sừng sững với đất trời, tư thế như lấn át cả không gian bao la. Hình ảnh ba quân cũng được xây dựng tương xứng với tư thế của người dũng tướng. Khí thế ba quân như muốn nuốt sao ngưu, vang dạy trời đất. Hai câu thơ vẽ ra trước mắt người đọc một đội quân hùng mạnh, khí thế ngút trời xanh, sẵn sàng tiêu diệt mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ giang sơn bờ cõi.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ “Quy hứng” của Nguyễn Trung Ngạn

Ba quân ấy chính là sức mạnh quân đội nhà trần. Sức mạnh ấy là sự hội tụ của lòng yêu nước thiết tha, ý chí căm thù và quyết chiến quyết thắng kẻ thù của vị quân vương sáng suốt, tướng lĩnh tài ba, binh sĩ anh hùng không quản ngày đêm tập luyện. Lời thơ như tái hiện lại trong lòng người đọc một thời đại anh hùng rực rỡ. Ta như vẫn còn nghe đâu đây tiếng trống trận dồn dập thúc giục, tiếng binh sĩ hô vang dậy đất trời, tiếng bước chân hành quân rầm rập rung trời chuyển núi. Ta như còn nhìn thấy ánh lửa sáng rực màn đêm, người dũng tướng phi ngựa vút lên phía trước, tay múa ngọn giáo dài xông thẳng vào quân giặc hung tàn. Thời đại ấy nay đã xa nhưng khí thế ấy vẫn còn vang mãi đến hôm nay và cho đến tận mai sau.

Dù đã dẹp yên giặc dữ, đất nước đã vẹn toàn, muôn dân no ấm, khắp nơi ca vang bài ca thái bình thịnh trị ca ngợi công đức của các bậc thánh minh thế nhưng Phạm Ngũ Lão vẫn chưa thể yên lòng:

Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.

(Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu)

Phạm ngũ Lão cho rằng chiến công của mình vẫn chưa xứng đáng với cuộc đời làm trai. Ông muốn được làm nên nhiều kì tích hơn nữa. Thế nên, mỗi khi nghe chuyện kể về Gia Cát Tiên sinh (một mưu sĩ, một nhà quân sự tài ba thời Tam Quốc) ông cảm thấy hổ thẹn vì chưa bằng. Đó là nỗi thẹn cao quý của một vị dũng tướng đã hết lòng vì nước vì dân nguyện đem tinh thần và sức lực phụng sự cho đất nước.

Có người cho rằng, ở ý thơ này, Phạm Ngũ Lão đã tỏ ra quá kiêu mạn. Chiến công của ông trọng lịch sử hiếm người sánh bằng thì có gì mà phải thẹn. Lại nữa, ông đã đem mình so sánh với Gia Cát Lương, một vị “thiên cổ kì sư” thì có phần khập khiễng quá. Sự vĩ đại không thể tính bằng chiến tích, chiến công hay chiến lợi phẩm. Sự vĩ đại được khẳng định bằng mục đích và kết quả của hành động. Có thể nói, Phạm Ngũ Lão đã hành động vì mục đích cao cả nhất của con người đó là ra sức đánh giặc cứu nước, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ non sông, xuất phát từ tình yêu tổ quốc thiêt tha.

Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão là nỗi thẹn của một người khát khao được cống hiến, được chiến đấu nhưng hiện tại không còn có cơ hội nào. Ước mơ trở nên vĩ đại hơn càng làm cho ông trở nên phi thường. Hình ảnh Phạm Ngũ Lão khẳng định mạnh mẽ tư tưởng sống của người nam nhi xưa, luôn khao khát lập công danh, làm rạng rỡ nước nhà, gia tộc.

Nói về nợ công danh, Nguyễn Công Trứ có lần bày tỏ:

“Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc.
Nợ tang bồng vay trả, trả vay.
Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây,
Cho phỉ sức vẩy vùng trong bốn bể”.

Làm nên công trạng hiển hách không những là lợi ích mà còn là bổn phận của người làm trai đối với đất nước. Đã là nam nhi mà không có danh gì, sống nhu nhược, bất tài thì quả là một nỗi nhục lớn:

“Làm trai đứng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông”.

Nhiều lúc, Nguyễn Công Trứ đã đi vào chỗ quyết liệt như lời thề sinh tử:

“Không công danh thà nát với cỏ cây”.

Như vậy, có thể thấy, công danh là một khái niệm có hàm nghĩa khá rộng, đó là những cống hiến xứng đáng được ghi nhận của con người đối với giang sơn, đất nước, đối với con người. Nó cũng không có biên kiến hay giwois hạn nào cả. Bởi thế, Phạm Ngũ Lão lúc nào cũng muốn có được nhiề chiến công hơn nữa, quyết đêm toàn bộ tinh thần và sức lực mình dâng hiến cho cược đời. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão cũng là nỗi thẹn chung của các tướng sĩ, lúc nào cũng muốn lập công để lại tiếng thơm muôn đời. Ý chí ấy chính là ý chí của thời đại Đông A, một thời kì rực rỡ và hào hùng bậc nhất trong lịch sử dân tộc ta.

Bài thơ kết thúc trong tư thế cao vời, con người to lớn mà khí thế cũng vút tận mây cao. Ngôn ngữ ngắn gọn, súc tích nhưng bút pháp có tính hoành tráng, đạt đến sắc màu sử thi, thể hiện kì vĩ tư thế con người chiến thắng mang tâm vóc ngang tầm vũ trụ. Đó cũng là một khúc ca đầy tự hào vang vọng giữa đất trời cho đến nghìn thu.

3Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) – Bài số 3

Nổi lên trong bài thơ là chân dung con người Việt Nam thế kỷ XIII. Đó vừa là con người vũ trụ, con người cộng đồng vừa là con người hữu tâm. Nói cách khác Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão là bài thơ tiêu biểu thể hiện rõ nét quan niệm về con người trong văn học Phương Đông.

Hoành sóc giang san kháp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu
Nan nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.

Bản dịch 1:

Múa giáo non sông trải mấy thu,
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.
Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.
(Bùi Văn Nguyên dịch)

Bản dịch 2:

Múa giáo non sông trải mấy thâu,
Ba quân hùng khí át sao Ngưu.
Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.
(Trần Trọng Kim dịch)

Thuật hoài là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, chia thành hai phần khá rõ: ở hai câu đầu là hình tượng con người và hình tượng quân đội thời Trần, hai câu sau là “nỗi lòng” của tác gia. Mở đầu bài thơ là hình ảnh tráng lệ với âm hưởng hào hùng, sảng khoái:

Hoàng sóc giang san kháp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

Hai câu thơ có hai hình ảnh: hình ảnh tráng sĩ (con người thời Trần) và hình ảnh ba quân (quân đội thời Trần, thời đại, dân tộc). Tráng sĩ hiện lên trong hành động cắp ngang ngọn giáo với mục đích giữ gìn non sông đã mấy thu rồi. Các bản dịch thơ dịch “hoành sóc” bằng “múa giáo”. Theo tôi, cách dịch như vậy là hay nhưng chưa có sức âm vang. “Múa giáo” thể hiện sự điêu luyện, bền bỉ, dẻo dai nhưng thiếu đi độ cứng rắn, mạnh mẽ. “Cầm ngang ngọn giáo” khắc hoạ được tư thế hiên ngang, lẫm liệt, vững chãi của người trai thời Trần. Câu thơ nguyên tác dựng lên hình ảnh con người cầm ngang ngọn giáo trấn giữ đất nước. Đó chính là dáng đứng của con người Việt Nam đời Trần.

Nếu câu thơ đầu thể hiện vẻ đẹp của con người với tầm vóc, tư thế, hành động lớn lao, kỳ vĩ thì câu thơ thứ hai tô đậm hình ảnh “ba quân” tượng trưng cho sức mạnh dân tộc.

Tam quân tì hổ khí khôn ngưu

“Tam quân” là chỉ quân đội, dân tộc; “Ngưu” có nghĩa: là sao Ngưu, là trâu. Hình ảnh ba quân trong tư thế xông lên giết giặc với khí thế bừng bừng. Thủ pháp nghệ thuật so sánh vừa cụ thể hoá sức mạnh vật chất vừa hướng tới sự khái quát hoá sức mạnh tinh thần của “hào khí Đông A”. Câu thơ gây ấn tượng mạnh bởi sự kết hợp giữa hình ảnh khách quan và cảm nhận chủ quan, giữa hiện thực và lãng mạn.

Xem thêm:  Phân tích đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Đặng Trần Côn) - Văn mẫu lớp 10

Tác giả Trần Trọng Kim dịch là “Ba quân hùng khí át sao Ngưu”, còn Bùi Văn Nguyên dịch là “Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”. Tôi thích cách dịch của Trần Trọng Kim, bởi lẽ dịch “Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu” nói được sức mạnh, khí thế dũng mãnh “Sát Thát” của quân đội, sẵn sàng lăn xả vào bọn giặc dữ một khi chúng tràn tới… nhưng chưa nói được tầm vóc. Hơn nữa dịch “át sao Ngưu”… câu thơ có lẽ giàu hình ảnh, gợi cảm hơn, kết hợp với câu thơ thứ nhất mở ra cả một không gian rộng lớn, vì thế ý thơ cũng giàu sức khái quát hơn.

Hai câu thơ nhỏ mà mang hai hình ảnh lớn: Hình ảnh một tráng sĩ cắp ngang ngọn giáo đi cứu nước ròng rã bao năm mà chưa hề mảy may mệt mỏi. Hình ảnh “ba quân” xông lên giết giặc bừng bừng hùng khí át cả sao Ngưu, nghĩa là át cả trời cao. Bút pháp miêu tả, so sánh, phóng đại, phép đối hài hoà, giọng thơ hào hùng, sôi nổi tạo ra cách nói hấp dẫn và ấn tượng. Hình ảnh tráng sĩ còn có tính chất cụ thể ít nhiều, hình ảnh ba quân thì rõ ràng chỉ từ ấn tượng, từ cảm hứng chủ quan, dĩ nhiên là rất mãnh liệt và sảng khoái. “Ở đây chủ quan mà lại chân thực, chân thực của ấn tượng chứ không phải chân thực của thị giác. Chân thực ở cái hồn của sự việc chứ không phải ở sự việc cụ thể. Xét cho cùng, chính đó là cái chân thực của thời đại, của đất nước” (Nguyễn Đình Chú).

Nếu cái tư thế của tráng sĩ với hình ảnh cây trường giáo như đo bằng chiều ngang của non sông thì tư thế của ba quân lớn mạnh đo bằng chiều dọc. Nghĩa là không gian mở ra theo chiều rộng của núi sông và mở theo chiều cao đến tận sao Ngưu thăm thẳm. Con người kì vĩ như át cả không gian bao la trong một bối cảnh không – thời gian kì vĩ. Hình ảnh tráng sĩ lồng vào trong hình ảnh dân tộc thật đẹp có tính chất sử thi, hoành tráng. Đó chính là sức mạnh, âm vang của thời đại, vẻ đẹp của người trai thời Trần. Đó chính là sản phẩm của “hào khí Đông A”.

Nói cách khác, đó là hình ảnh con người vũ trụ, mang tầm vóc lớn lao. Con người mang tầm vóc của vũ trụ này vì ai mà xông pha, quyết chiến…? Tất cả xuất phát từ trách nhiệm, ý thức dân tộc và nền thái bình đất nước… Vì thế con người vũ trụ gắn với con người trách nhiệm, con người ý thức, bổn phận, con người hành động, đó chính là những biểu hiện củacon người cộng đồng, con người xả thân vì đất nước. Điều đặc biệt ở đây là, khác với văn học Trung Quốc hay Ấn Độ, con người vũ tru, con người cộng đồng trong văn học Việt Nam nói chung và Thuật hoài nói riêng gắn với lòng tự hào, tự tôn dân tộc, gắn với thời đại và đất nước.

Nếu ở hai câu đầu giọng điệu sôi nổi hùng tráng thì đến đây âm hưởng thơ bỗng dưng như một nốt trầm lắng lại. Điều đó rất phù hợp với lời bộc bạch, tâm sự, bày tỏ nỗi lòng của nhà thơ. Nói cách khác âm hưởng thơ góp phần thể hiện nỗi lòng của Phạm Ngũ Lão.

Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.
(Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu).

Vẻ đẹp của người trai thời Trần không chỉ thể hiện ở cái tư thế, khí phách, tầm vóc, sức mạnh mà còn thể hiện ở cái chí, cái tâm của người tráng sĩ. Cái chí, cái tâm ấy gắn liền với quan niệm chí làm trai. Theo Phạm Ngũ Lão chí làm trai phải gắn liền với hai chữ công danh, Chí làm trai này mang tinh thần, tư tưởng tích cực, gắn với ý thức trách nhiệm, lập công (để lại sự nghiệp), lập danh (để lại tiếng thơm cho đời). Chí làm trai đó được coi là món nợ đời phải trả. Trả xong nợ công danh có nghĩa là hoàn thành nghĩa vụ đối với dân, với nước. Quan niệm lập công danh đã trở thành lý tưởng sống của trang nam nhi thời phong kiến. Sau này Nguyễn Công Trứ cũng khẳng định:

Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông

Đặt trong thời đại của Phạm Ngũ Lão, chí làm trai này đã cổ vũ con người từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì sự nghiệp lớn lao “cùng trời đất muôn đời bất hủ”. Phạm Ngũ Lão cũng từ cái chí, cái nợ nam nhi, nam tử đó mà cùng dân tộc chiến đấu chống xâm lược bền bĩ, ròng rã bao năm. Đặc biệt ở đây cũng từ cái chí, cái nợ đó mà nảy sinh trong tâm trạng một nỗi thẹn. Nói cách khác cái tâm thể hiện qua nỗi thẹn…

Phạm Ngũ Lão “thẹn” chưa có tài mưu lược lớn như Vũ Hầu Gia Cát Lượng đời Hán để trừ giặc, cứu nước. Thẹn bởi vì so với cha ông mình chưa có gì đáng nói. Gia Cát Lượng là quân sư của Lưu Bị, mưu trí tuyệt vời, song điểm làm cho Gia Cát Lượng nổi tiếng là lòng tuyệt đối trung thành với chủ. Vì thế “luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu” thực chất là một lời thề suốt đời tận tuỵ với chủ tướng Trần Hưng Đạo, “thẹn” còn được hiểu là cách nói thể hiện khát vọng, hoài bão muốn sánh với Vũ hầu. Xưa nay, những người có nhân cách vẫn thường mang trong mình nỗi thẹn.

Nguyễn Khuyến trong bài thơ “Thu vịnh” từng bày tỏ nỗi thẹn khi nghĩ tới Đào Tiềm – một danh sĩ cao khiết đời Tấn. Đó là nỗi thẹn của người có nhân cách. Trong bài Thuật hoài,Phạm Ngũ Lão thẹn vì chưa trả xong nợ nước. Đó là nỗi thẹn có giá trị nhân cách. Nỗi thẹn ấy không làm cho con người trở nên nhỏ bé mà trái lại nâng cao phẩm giá con người. Đó là cái thẹn của một con người có lý tưởng, hoài bão vừa lớn lao, vừa khiêm nhường. Nỗi thẹn của một con người luôn dành trọn cái tâm cho đất nước, cho cộng đồng. Như vậy, Phạm Ngũ Lão vừa đề cao cái chí, vừa đề cao cái tâm của con người Việt Nam đời Trần. Đó chính là con người hữu tâm trong thơ ca trung đại Việt Nam.

Tóm lại bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão đã thể hiện được quan niệm về con người trong văn học phương Đông. Hình ảnh tráng sĩ – con người Việt Nam đời Trần vừa mang tầm vóc vũ trụ, vừa có ý thức, trách nhiệm cộng đồng, vừa lắng sâu một nỗi lòng cao cả. Nói cách khác ba kiểu con người: con người vũ trụ, con người cộng đồng và con người hữu tâm đồng hiện, hài hoà. Chính ý thức trách nhiệm với đất nước (con người cộng đồng) nên sẵn sàng xông pha cứu nước với tư thế và tầm vóc lớn lao (con người vũ trụ) và luôn biết nghĩ suy, khát vọng (con người hữu tâm)… Dáng đứng Việt Nam, con người Việt Nam đời Trần cao đẹp làm sao!

Xem thêm:  Phân tích bài Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu) - Văn mẫu lớp 10

“Bài thơ nêu cao lý tưởng trai thời loạn. Lý tưởng trai thời loạn là “cắp ngang ngọn giáo”, luôn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu dẹp giặc cứu nước. “Nợ công danh” lúc này là trách nhiệm của người thanh niên đối với đất nước khi có giặc ngoại xâm… Người thanh niên thời đại ấy đã ý thức được trách nhiệm cao cả của mình đối với Tổ quốc. Từ bài thơ còn nổi lên hình ảnh quân đội cứu nước, ngùn ngụt khí thế của hổ báo nuốt trâu. (Nguyễn Sĩ Cẩn)

“Cầm ngang ngọn giáo mà trấn giữ non sông. Ngọn giáo ấy phải đo bằng chiều ngang của non sông. Thế thì con người cầm ngang ngọn giáo bảo vệ Tổ quốc ấy tất phải được đo bằng kích thước của trời đất. Con người có tầm vóc vũ trụ như vậy đã đồng nhất với non sông. Tầm vóc hoành tráng, tư thế vững chắc ấy của dân tộc ta có cơ sở từ tinh thần làm chủ đất nước sâu sắc, từ ý chí bảo vệ đất nước rất kiên cường. Với tinh thần ấy, nhân dân ta đã làm nên những chiến công oanh liệt ở Chương Dương, Hàm Tử, Chi Lăng, v.v… và nhất là Bạch Đằng” (Đinh Gia Khánh)

Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) – Bài số 4

Thời đại nhà Trần là một trong những thời đại oai hùng nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam với chiến công ba lần đánh thắng quân Mông – Nguyên xâm lược. Nhắc đến chiến công ấy, ta không thể không nhớ tới Phạm Ngũ Lão – một danh tướng có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến bảo vệ nước nhà.

Ngoài cương vị một võ tướng, ông còn thích đọc sách, ngâm thơ. Bài thơ Thuật hoài vừa khắc họa sinh động hình tượng người tráng sĩ thời Trần hiên ngang, bất khuất; vừa thế hiện khát vọng cao đẹp của chính tác giả.

Ngay từ câu thơ đầu tiên, tác giả đã mở ra trước mắt người đọc một không gian bao la rộng lớn của sông núi. Cũng trong không gian mênh mông ấy, hình tượng người tráng sĩ thời Trần với tư thế hiên ngang, anh dũng sừng sững hiện lên. Người tráng sĩ ấy cầm ngang ngọn giáo để bảo vệ đất nước. Tư thế ấy, tầm vóc ấy như sánh ngang cùng giang sơn hùng vĩ. Từ “hoành sóc” vừa khắc họa tư thế hiên ngang, bất khuất vừa tạo nên âm hưởng hào hùng. Người tráng sĩ canh giữ giang sơn không chỉ trong chốc lát. Thời gian dài đằng đẵng được tác giả nhắc đến qua ba từ “kháp kỉ thu” rất nhẹ nhàng. Thời gian mấy thu dung hòa với không gian và con người tạo nên bức tranh có chiều sâu trong đó nổi bật là hình tượng người tráng sĩ hiên ngang, anh dũng. Câu thơ thể hiện lòng tự hào của tác giả đối với vẻ đẹp của con người thời đại nhà Trần.

Đến câu thơ thứ hai, nhà thơ khiến người đọc cảm nhận một cách rõ nét khí thế của tam quân. Khí thế ấy được đặc tả qua cụm từ “khí thôn ngưu” – khí thế nuốt trâu đầy dũng mãnh. Đội quân ấy chính là tập hợp những tráng sĩ cầm ngang ngọn giáo bảo vệ Tổ quốc. “Tam quân” với hào khí ngút trời, khí thế dũng mãnh, ý chí kiên cường có thể đánh tan mọi kẻ thù, bảo vệ vững chắc giang sơn. Hai câu thơ đầu hiện lên với khí thế hào hùng và vẻ đẹp của con người thời Trần. Nó cũng thể hiện lòng tự hào của Phạm Ngũ Lão về con người thời đại ông.

Nếu như hai câu thơ đầu là hình tượng người tráng sĩ thời Trần oai phong, dũng mãnh thì đến câu thơ thứ ba, nhịp thơ như chậm lại, hình tượng nhà thơ hiện lên với một vẻ trầm tư suy nghĩ:

Nam nhi vị liễu công danh trái.

Theo quan niệm của Nho giáo, người con trai sinh ra trong cuộc đời này là đã mang một món nợ: nợ nam nhi, nợ công danh. Nợ công danh còn gọi là nợ tang bồng – món nợ mà người đàn ông phải trả bằng sự cố gắng phấn đấu, rèn luyện trong suốt cả cuộc đời để làm nên nghiệp lớn. Phạm Ngũ Lão – một danh tướng thời Trần cũng không khỏi trầm tư suy nghĩ về món nợ của kẻ làm trai. Những tưởng vị danh tướng ấy đã có thể yên lòng vì mình đã trả hết món nợ công danh bằng những công hiên to lớn cho sự nghiệp chống ngoại xâm bảo vệ đất nước nhưng không phải vậy. Đọc đến câu thơ cuối, ta mới thấy hết khát vọng và nhân cách cao đẹp của ông:

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.

Vũ hầu là Gia Cát Lượng, người có tài dùng binh và rất trung thành, tận tụy với sự nghiệp giúp Lưu Bị lập nên nhà Thục Hán. Phạm Ngũ Lão tự cảm thấy hổ thẹn khi nghe chuyện Vũ hầu. Mặc dù Phạm Ngũ Lão là người có công lớn trong sự nghiệp bảo vệ đất nước song ông chưa bao giờ hài lòng với những gì mình đã làm được. Ông vẫn cảm thấy mắc nợ với đời, hổ thẹn vì mình không tài giỏi được như Vũ hầu để đóng góp cho nước cho dân. Đó là cái thẹn cao đẹp, thể hiện tấm lòng luôn mong mỏi được công hiến. Tâm sự ấy của Phạm Ngũ Lão thật đáng quý biết bao! Hình tượng nhân vật qua hai câu thơ cuối không chỉ thể hiện khát vọng cao đẹp của Phạm Ngũ Lão mà còn bộc lộ vẻ đẹp của con người thời Trần nói chung.

Hình tượng nhân vật trong bài thơ vừa toát lên sự oai hùng, kiên cường, bất khuất lại vừa thể hiện nỗi trầm tư và khát vọng được cống hiến, đóng góp cho đất nước. Đó là vẻ đẹp của con người thời Trần – một vẻ đẹp khiến người đọc chúng ta tự hào và cảm phục. Đó không chỉ là lí tưởng sông của

con người thời Trần mà còn là mục đích sông của con người mọi thời đại. Sống vì cuộc đời, vì sự nghiệp chung của đất nước chính là lí tưởng sông cao đẹp, tích cực của tất cả mọi người dù ở thời đại nào. Ngày nay, khi chúng ta được sông trong hòa bình thì nhiệm vụ của mỗi người là phải ra sức học tập, rèn luyện để xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Thế hệ trẻ hôm nay hãy cố gắng noi theo lí tưởng sông của con người thời Trần, phấn đấu hết mình để đóng góp cho đất nước. Hãy biến hào khí Đông A của nhà Trần năm xưa thành tinh thần hăng say học tập, lao động để phục vụ nước nhà.

Bài thơ Tỏ lòng chỉ gồm bốn câu nhưng đã khắc họa rõ nét vẻ đẹp hiên ngang, anh dũng cũng như lí tưởng sống cao đẹp của con người thời Trần. Đọc bài thơ, hào khí của một thời kì oai hùng trong lịch sử dân tộc như đang dâng lên trong lòng người đọc. Hào khí, lí tưởng sống của những con người năm xưa sẽ trở thành động lực để thế hệ trẻ hôm nay ra sức phấn đấu, học tập, rèn luyện, đóng góp công sức của mình xây dựng, phục vụ đất nước.

Thanh Bình tổng hợp

Thống kê tìm kiếm

  • phan tich bai to long lop ăđ
  • phân tích bài tỏ lòng nâng cao
  • phân tích tỏ long
  • văn 10phân tich bai to long
  • viết bài văn về bài tỏ lònG

Check Also

khoathi1 - Phân tích những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa

Phân tích những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa

Đề bài: Em hãy phân tích những câu ca dao than thân, yêu thương tình …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *