Home / Ôn thi môn Ngữ văn / Ngữ văn lớp 8 / Phân tích bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên – Văn mẫu lớp 8

Phân tích bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên – Văn mẫu lớp 8

Phân tích bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên – Bài làm 1 của một bạn học sinh giỏi Văn tỉnh Bắc Giang

Trong những ngày Tết đến xuân về náo nức trên mọi nẻo đường, người yêu thơ lại khẽ lắng mình trong một nhịp thơ giản dị đầy nhân văn của nhà thơ Vũ Đình Liên: bài thơ "Ông đồ".

Bài thơ ra đời khi ông đồ đã trở thành cái di tích của một thời tàn. Nho học đã bị thất sủng, người ta đua nhau chạy theo thời đại với chữ Pháp chữ Tây.

Hai đoạn đầu bài thơ, tác giả giới thiệu những ngày huy hoàng của ông đồ:

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài

Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay.

Những lời khen thật hào phóng, nhưng nghĩ kĩ đó chỉ là lời khen của những người ngoài giới bút nghiên. Đi viết câu đối thuê, bản thân việc ấy đã là nỗi lận đận, là bước thất thế của người theo nghiệp khoa bảng. Đỗ các thành quan nghè, quan thám, đỗ thấp thì cũng ông cử, ông tú, chứ ông đó là chưa đỗ đạt gì, công chưa thành, danh chưa toại, đành về quê dạy học, bốc thuốc, hay xem lí số ở nơi đô hội như có lần Tản Đà đã làm. Ngày tết, mài mực bán chữ ngoài vỉa hè chắc cũng là việc bất đắc dĩ của nho gia. Chữ thì cho chứ ai lại bán. Bán chữ là cái cực của kẻ sĩ ở mọi thời. Bà con yêu quý và cũng thán phục cái thú chữ mà bà con không biết, hay chỉ võ vẽ, nên mới khen lao đến vậy. Lời khen này không mang lại vinh quang cho ông đồ, có thể ông còn tủi nữa, nhưng nó an ủi ông nhiều, nó là cái tình của người đời vào hồi vận mạt của ông. Tác giả giới thiệu: cùng với hoa đào, mỗi năm mới có một lần chứ nhiều nhặn gì đâu, giấy đỏ mực tàu, chữ nghĩa thánh hiền bày trên hè phố. Đừng nghĩ đến chuyện khoa bảng, hãy nghĩ trên cương vị người bán, thì đây là hai đoạn thơ vui vì nó nói được sự đắt hàng, ông đồ còn sống được, có thể tồn tại trong cái xã hội đang biến động này. Nhưng cuộc đời đã không như thế mãi, cái ý thích của người ta cũng thay đổi theo thời cuộc. Lớp người mới lớn không có liên hệ gì để mà quyến luyến cái thứ chữ tượng hình kia. Cái tài viết chân, thảo, triện, lệ của ông đồ chữ tốt kia, họ không cần biết đến:

Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu…

Ông đồ vẫn ngồi đấy

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài giời mưa bụi bay

Ông đồ rơi vào tình cảnh một nghệ sĩ hết công chúng, một cô gái hết nhan sắc. Còn duyên kể đón người đưa, Hết duyên đi sớm về trưa một mình. Ông đồ vẫn ngồi đấy mà không ai hay. Cái hiện thực ngoài đời là thế và chỉ có thế, nó là sự ế hàng. Nhưng ở thơ, cùng với cái hiện thực ấy còn là nỗi lòng tác giả nên giấy đỏ như nhạt đi và nghiên mực hóa sầu tủi, Hay nhất là cộng hưởng vào nỗi sầu thảm này là cảnh mưa phùn gió bấc. Hiện thực trong thơ là hiện thực của nỗi lòng, nỗi lòng đang vui như những năm ông đồ "đắt khách" nào có thấy gió mưa. Gió thổi lá bay, lá vàng cuối mùa rơi trên mặt giấy, nó rơi và nằm tại đấy vì mặt giấy chưa được dùng ỉến, chẳng có nhu cầu gì phải nhặt cái lá ấy đi. Cái lá bất động trên cái chỗ không phải của nó cho thấy cả một dáng bó gối bất động của ông đồ rồi nhìn mưa bụi bay. Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẽ, không chỉ bóng dáng ông đồ mà cả cái tiêu điều của xã hội qua mắt của ông đồ. Tác giả đã có những chi tiết thật đắt: nơi ông đồ là bút mực, nơi trời đất là gió mưa, nơi xã hội là sự thờ ơ không ai hay. Thể thơ năm chữ vốn có sức biểu hiện những chuyện dâu bể, hoài niệm, đã tỏ ra rất đắc địa, nhịp điệu khơi gợi một nỗi buồn nhẹ mà thấm. Màn mưa bụi khép lại đoạn thơ thật ảm đạm, lạnh, buồn, vắng. Như vậy cũng chỉ với tám câu, bốn mươi chữ, đủ nói hết những bước chót của một thời tàn. Sự đối chiếu chi tiết ở đoạn này tới đoạn trên: mực với mực, giấy với giấy, người với người, càng cho ta cái ấn tượng thảng thốt, xót xa của sự biến thiên.

Có một khoảng thời gian trôi qua, khoảng trống của đoạn thơ trước khi vào bốn câu kết:

Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Hãy trở lại câu thơ đầu bài Mỗi năm hoa đào nở để thấy quy luật cũ không còn đúng nữa. Ông đồ đã kiên nhẫn vẫn ngồi đấy, nhưng năm nay ông không còn kiên nhẫn được nữa: Không thấy ông đồ xưa. Ông đã cố bám lấy xã hội hiện đại, lũ người hiện đại chúng ta đã nhìn thấy sự cố sức của ông, đã thấy ông chới với, nhưng chúng ta đã không làm gì, để đến bây giờ quay nhìn lại, mới biết ông đã bị buông rơi tự bao giờ. Bóng dáng ông đâu phải bóng dáng của một người, của một nghề, mà là dáng của cả một thời đại, bóng dáng kí ức của chính tâm hồn chúng ta. Đến bây giờ chúng ta mới thấy luyến tiếc, nhưng quá muộn rồi. Chúng ta hỏi nhau hay tự hỏi mình? Hỏi hay khấn khứa tưởng niệm, hay ân hận sám hối. Hai câu thơ hàm súc nhất của bài, chúng ta đọc ở đấy số phận của ông đồ và nhất là đọc được thái độ, tình cảm của cả một lớp người đối với những gì thuộc về dân tộc, về ngữ pháp câu thơ này rất lạ, nhưng không ai thấy cộm: Những người muôn năm cũ. Muôn năm, thật ra chỉ là vài ba năm, nhưng nói muôn năm mới đúng, thời ông đồ đã xa lắc rồi, đã lẫn vào với những bút, những nghiên rất xa trong lịch sử. Chữ muôn năm cũ của câu trên dội xuống chữ bây giờ của câu dưới càng gợi bâng khuâng luyến nhớ. Câu thơ không phải là nỗi đau nức nở, nó chỉ như một tiếng thở dài cảm thương, nuối tiếc khôn nguôi.

Phân tích bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên – Bài làm 2

Mỗi dịp tết đến xuân về, người Việt xưa thường có thói quen xin chữ để gửi gắm những mong ước, khát vọng cho năm mới. Đó là chữ nho, thứ chữ tượng hình giàu ý nghĩa. Học, hiểu được chữ nho đã khó, viết được cho thật đẹp lại càng khó hơn. Người có hoa tay, viết chữ mà tưởng như vẽ bức tranh. Đầu thế kỉ XX, trên các phố phường Hà Nội còn lưu giữa lại hình ảnh những cụ đồ nho cặm cụi đậm tô từng nét chữ “tròn, vuông tươi tắn” (chữ dùng của Nguyễn Tuân) trên giấy điều để bán cho dân Hà Thành đón Tết. Hình ảnh ấy đã in sâu vào tâm trí Vũ Đình Liên và hiện hình thành bức tranh thơ giản dị mà sinh động:

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Trên phố đông người qua

Cấu trúc “mỗi…lại” cho ta thấy sự lặp đi lặp lại đã trở thành nếp, thành quy luật quen thuộc. Hoa đào từ lâu đa xtrơe thành sứ giả báo tin xuân. Bởi vậy nói “hoa đào nở” cũng là nhắc ta cái thời khắc chuyển giao thiêng liêng giữa năm cũ và năm mới đang đến gần. Cứ khi hoa đào nở là lại thấy ông đồ già xuất hiện cùng mực tàu, giấy đỏ bên phố nhộn nhịp người đi lại sắm tết.Lời thơ từ tốn mà chứa bao yêu thương. Dẫu chỉ chiếm một góc nhỏ thôi “trên phố” nhưng trong bức tranh thơ này, ông đò lại trở thành tâm điểm. điềm đạm và lặng lẽ, ông đồ hoà nhập vào sự náo nức, rộn ràng của cuộc đời bằng chính những cái quý giá nhất mà ông có. đoạn thơ hai mươi chữ giới thiệu được trọn vẹn không gian, thời gian, nhân vật, tạo tiền đề cho câu chuyện tiếp tục ở những khổ thơ sau:

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay.

Từ phố đông, không gian được thu hẹp lại quanh chỗ ông đò ngồi viết chữ.Câu thơ ấm ran sự sống bởi từ chỉ số lượng có tính chât phiếm định “bao nhiêu” và tính từ “tấm tắc”biểu đạt sự thán phục, ngợi cn, trân trọng. Ngươì xưa quan niệm chữ nho là thứ chữ thánh hiền. Học chữ ấy không phải đê kiếm sống mà mục đích cao nhất là để làm người, để có thể phò vua, trợ nước, giúp đời. Đầu thế kỉ XX, tình hình đất nước Việt Nam có sự biến động sâu sắc trên mọi lĩnh vực.Tình trạng “Âu học chưa vin được ngọn ngành mà Hán học đã đứt cả cội rễ” rồi khoa thi cuối cùng của triều đình phong kiến đã làm tiêu tan bao giấc mộng vinh quy bái tổ của các đệ tử của Khổng sân Trình. Để tìm kế sinh nhai, họ chỉ còn một cách duy nhất là đi bán chữ như hoàn cảnh của ông đồ trong bài thơ. Dẫu việc đánh đổi chữ thánh hiền để lấy miếng cơm manh áo chỉ là việc cùng bất đắc dĩ, chẳng phải vui sướng, danh giá gì nhưng cái tấm tắc ngợi khen của người đời cũng an ủi được phần nào nỗi niềm của những kẻ sinh bất phùng thời.Họ súm sít thuê ông viết chữ, trầm trồ trước cái tài hoa của ông cũng có nghĩa là còn biết trân trọng tài năng và cái đẹp.Hai câu tiếp theo, nhà thơ miêu tả cận cảnh, đặc tả nét bút tài hoa của ông đồ:

Hoa tay thảo những nét
Như phượng mua rống bay

Câu thơ gợi ta nhớ đến một hình ảnh tương tự mà Đoàn Văn Cừ ghi lại được trong phiên chợ tết:

Một thầy khoá ò lưng trên cánh phản
Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân

Người đọc tưởng như nhìn thấy trước mắt bàn tay có những ngón thon dài nhỏ nhắn của ông đồ uốn lượn cây bút.Theo đà đưa đẩy của bút lông từng nét chữ còn tươi màu mực dần dàn hiện ra mềm mại như “phượng múa rồng bay”.Dường như trongnét chữ ấy ông đồ gửi gắm tất cả cái anh hoa, khát vọng và lí tưởng của mình.Chính linh hồn và tâm huyết của người đã làm con chữ sống dậy.Câu thơ của vũ Đình Liên như cũng muốn bay lên với niềm hân hoan trong thời kì hoàng kim của ông đồ.

Nếu cứ tiếp tục nhủ thế thì nhà thơ cũng chẳng có gì để nói. Bất ngờ là đặc trưng cảu cuộc đời. Khổ thơ thứ ba bắt đầu bằng một từ “nhưng” dự báo biết bao thay đổi:

Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?

Hai từ “mỗi” điệp lại trong một câu thơ diễn tả bước đi cảu thời gian.Nếu như trước đây: “Mỗi năm hoa đào nở” lại đưa đến cho ông đồ già “bao nhiêu người thuê viết” thì giờ đây “mỗi năm” lại “mỗi vắng”. Nhịp đi của thời gian bao hàm cả sự mài mòn, suy thoái.Thanh “sắc” kết hợp với âm “ắng” khép lại câu thứ nhất như một sự hẫng hụt, chênh chao, như đôi mắt nhìn lên đầy băn khoăn. Để rồi một cách tự nhiên, câu thứ hai phải bật ra thành câu hỏi: Những người thuê ông đồ viết chữ khi xưa nay đâu cả rồi? Câu hỏi buông ra không bao giờ có lời đáp nên cứ chạp chớn, cứ ám ảnh mãi. Người thuê viết không còn, giấy đỏ, mực thơm không được dùng đến nên:

Giáy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu

Nỗi buồn của con người khiến các vật vô tri vô giác cũng như buồn lây. Mực ssầu tủi đọng lại trong nghiên, giấy điều phôi pha buồn không muốn thắm.Biện pháp nhân hoá góp phần nhấn mạnh tâm trạng của con người. Bởi chẳng phải mực và giấy là những đồ vật gắn bó thân thiết nhất với ông đồ hay sao? Quả là:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đau bao giờ
(Nguyễn Du-Truyện Kiều)

Nếu như trước kia, sự xuất hiện của ông đồ làm không gian và lòng người thêm náo nức.Người ta đón nhận ông bằng tất cả sự trân trọng, kính yêu. Thì giờ đây:

Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay

“Vẫn ngồi đấy” nghĩa là ông vẫn đến theo tín hiệu của hoa đào, vẫn “bày mực tàu giấy đỏ” trên con phố dông người lại qua sắm tết. Ông chờ đợi cái súm sít, tấm tắc của người đời nhưng đáp lại chỉ là sự thờ ơ đến đáng sợ. Nghệ thuật đảo ngũ cùng kết hợp phủ định “không ai” thể hiện rõ nét cái lạnh lùng, thờ ơ, vô cảm đến đáng sợ cảu người đời. Họ cứ đi lại, vui vẻ nói cười mà không có chút ý thức nào về sự tồn tại của ông đồ. ông đã bị họ lẵng quên, bị đẩy ra bên lề cuộc sống. Tình cảnh của ông đồ có khác gì những ông cống, ông nghề trong thơ Tú Xương:

Nào có ra gì cái chữ nho
Ông nghè ông cống cũng nằm co

Đã đau đớn chôn vùi giấc mộng vinh quy, bán dần chữ thánh hiền để kéo dài thêm kiếp sống vậy mà lại bị lãng quên ngay trong lúc đang còn tồn tại. Câu thơ có cái già đắng đót cho bi kịch được nhân tới hai lần của ông đồ. Người đọc bỗng nhói lòng bởi dáng ngồi như hoá đá của ông giữa một trời mưa bui bay bay và những chiếc lá vàng đậu trên trang giấy:

Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay

Ai đó đã nói: Khi con người lui bước thì thiên nhiên chế ngự. Bởi không còn được dùng đến, bởi sự chờ đợi trong yên lặng quá lâu nên lá vàng tha hồ thả mình trên giấy. Ở đây cũng là mưa xuân nhưng nó không “phơi phới bay” như trong thơ thi sĩ lãng mạn Nguyễn Bính sau này. Ông đồ hình như cứ bị chìm lấp, mờ nhạt dần trong màn mưa. Để rồi đến khổ cuối thì bóng hình ông hoàn toàn không còn nữa:

Năm nay hoa đào nở
Không thấy ông đò xưa

Khổ thơ chơi vơi trong cảm giác thiéu vắng, mất mát. Hoa đào vẫn nở, một năm mới lại đến nhưng không còn đượng vẹn nguyên như xưa nữa. Ngôn ngữ thơ có sự chuyển đổi tinh tế từ “ông đò già” đơn thuần chỉ tuổi tác thành “ông đồ xưa”, biến nhân vật vĩnh viễn thành ‘cái di tích tiều tuỵ, đáng thương của một thời tàn” (lời Vũ Đình Liên). Văn minh, Âu hoá kông chấp nhận ông, không cho ông một con đường sống nên ông phải lỗi hẹn với hoa đào.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Mưa xuân của Nguyễn Bính

Bài thơ khép lại bằng tiếng “gọi hồn” thao thiết của tác giả:
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đau bây giờ?

“Những người muôn năm cũ” ấy là ai?Là ông đồ, là những ngơừi thuê ông đồ viết chữ hay là một thời đã đi qua nay chỉ còn “vang bóng”(chữ dùng của Nguyễn Tuân)? Dãu là gọi ai thì câu thơ cũng kết đọng bao tiếc nuối, xót xa cho sự phôi pha, tàn tạ của những nét đẹp trong văn hoá cổ truyền của dân tộc.Nhà thơ gọi để tiêc nuối và gọi để thức tỉnh hãy giữ lấy những giá trị truyền thống ngàn đời mà cha ông đã bao công bồi đắp. Tiếng gọi hồn ấy có giống với tiếng gọi đò u hoài của ông Tú Thành Nam vang trên sông Lấp khi xưa không?

Sử dung thể thơ ngũ ngôn và ngôn ngữ gợi cảm, giàu sức tạo hình, Vũ Đình Liên đã khiến cho tác phẩm của mình có dáng dấp một câu chuyện, kể vè cuộc đời một ông đò từ lúc còn được người đời trân trọng, cảm phục tới khi bị lãng quên. Qua hình tượng ông đồ, tác giả đã bày tỏ thật xuất sắc “lòng thương người” và “tình hoài cổ” của mình.

Phân tích bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên – Bài làm 3

Vũ Đình Liên là một trong những nhà thơ mở đầu cho phòng trào thơ mới. Tác phẩm của vũ đình liên không nhiều nhưng đều là những tác phẩm có giá trị nghệ thuật, giá trị nhân văn sâu sắc. trong những tác phẩm còn để lại cho đến ngày nay của ông, Ông đồ là tác phẩm nổi bật nhất. Bài thơ ông đồ là niềm hoài cổ của tác giả với một nét đẹp truyền thống xưa đang dần bị mai một.

Bài thơ ra đời khi nho học bị thất sủng, những tinh hoa nho giáo xưa nay chỉ còn là tàn tích, ông đồ và chữ nho cũng trở thành một tàn tích khi người ta vứt bút lông đi dắt bút chì

Hai khổ thơ đầu, vũ đình liên gợi nhắc lại thời huy hoàng của ông đồ:

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài

Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay

Khổ thơ đầu gợi nên thời gian, địa điểm nơi ông đồ làm việc. Thời gian là vào mùa xuân, mùa đẹp nhất trong năm với hình ảnh hoán dụ là hoa đào nở đã cho ta biết ông đồ làm việc khi trời đất bắt đầu vào độ đẹp nhất của năm Không khí mùa xuân, hình ảnh hoa đào nở đã tươi thắm nay lại thêm “mực tàu giấy đỏ” làm mọi nét vẽ trong bức tranh tả cảnh ông đồ thời kỳ huy hoàng này đậm dần lên, rõ nét, tươi vui, tràn đầy sức sống. đặc biệt là từ lặp lại về thời gian “lại” đã cho thấy sự gắn bó lâu dài giữa ông đồ với mùa xuân, công việc viết chữ của ông đồ không chỉ diễn ra trong một năm mà đã từ mùa xuân năm này qua mùa xuân năm khác. Địa điểm nơi ông đồ viết chữ là “bên phố đông người qua” dòng người đông đúc nơi phố phường mỗi dịp xuân về, quan trọng hơn cả là dòng người đông đúc ấy đều quan tâm đến ông đồ “bao nhiêu người thuê viết” và biết thưởng thức tài năng của ông đồ “tấm tắc ngợi khen tài”. Tác giả tả nét chữ của ông đồ “hoa tay thảo những nét/ như phượng múa rồng bay” Nghệ thuật so sánh của 2 câu thơ này làm toát lên khí chất trong từng nét chữ của ông đồ, đó là nét chữ đẹp, phóng khoáng, cao quý, qua việc ngợi khen nét chữ, tác giả gửi gắm sự kính trọng, ngưỡng mộ, nâng niu nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc. trong 2 khổ thơ đầu, hình ảnh ông đồ xưa trong thời kì huy hoàng của mình được tác giả kính trọng ngưỡng mộ, qua hình ảnh ông đồ, vũ đình liên cũng thể hiện tình cảm chân quý đến những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Hai khổ thơ tiếp theo tác giả vẽ lên bức tranh ông đồ thời nay, một kẻ sĩ lạc lõng giữa dòng đời đã không còn phù hợp, dòng đời mà ở đó chữ nho đã trở thành một tàn tích

Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu

Ông đồ vẫn ngồi đó

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài trời mưa bụi bay

“năm nay đào lại nở” khung cảnh mùa xuân vẫn diễn ra nhưng con người đã thay đổi, “Người thuê viết nay đâu” đây là một câu hỏi tu từ chứa đựng băn khoăn cũng như nỗi buồn của tác giả trước sự thay đổi của con người, mùa xuân vẫn đẹp như thế, nhưng con người nay đã không còn quan tâm đến nét đẹp văn hóa xưa. Đây là câu thơ vẽ lên cảnh lụi tàn vủa văn hóa chữ nho xưa. “giấy đỏ buồn không thắm/ mực đọng trong nghiên sầu” trước sự hờ hững của con người, đồ vật cũng ám muội muộn phiền, hình ảnh nhân hóa khiến cho giấy đỏ, mực nghiên cũng có cảm xúc như con người, bị lãng quên, giấy đỏ cũng nhạt màu đi, mực đọng lại nơi nghiên hay đọng lại trong nỗi buồn, “nghiên sầu” nghe thật bi ai.

Hình ảnh ông đồ thời nay cũng đã thay đổi, “ông đồ vẫn ngồi đó/ qua đường không ai hay” nếu như trước đây là “bao nhiêu người thuê viết/ tấm tắc ngợi khen tài” thì nay hình ảnh ông đồ âm thầm lặng lẽ, mờ phai dần trong sự lãng quên của mọi người. Vốn dĩ nghề ông đồ là nghề của những nho gia xưa không đạt được ước mơ khoa bảng phải về bốc thuốc, dạy học, hay trải chiếu bán chữ, là việc bất đắc dĩ của một nho gia, chữ nghĩa chỉ để cho chứ ai lại bán, như huấn cao trong chữ người tử tù cả đời chỉ cho chữ 3 lần, vậy mà ở đây ông đồ phải bán chữ để kiếm sống đã đủ thấy bất hạnh của kiếp người nho sĩ. Trước đây, được mọi người đón nhận, ít ra còn kiếm sống được bằng nghề này, đến nay, nho học thất sủng, người ta không còn quan tâm đến ông đồ, đến chữ ông viết, tức là khồng kiếm sống được bằng chính khả năng của mình nữa, ở đây không chỉ là bất hạnh của tài năng mà còn là bất hạnh cơm áo gạo tiền. khung cảnh quanh ông đồ cũng chứa đựng nỗi buồn “lá vàng rơi trên giấy/ngoài trời mưa bụi bay” nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, cảnh vật mùa xuân cũng trở nên tàn tạ, buồn theo nỗi buồn của con người, quả là “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (nguyễn du)

Khổ thơ cuối tác giả dùng để bày tỏ nỗi lòng thương xót đối với ông đồ cũng như đối với một nét đẹp văn hóa bị mai một của dân tộc

Năm nay hoa đào nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ

Mở đầu bài thơ tác giả viết “mỗi năm hoa đào nở/ lại thấy ông đồ già” kết thúc bài thơ tác giả viết “năm nay hoa đào nở/ không thấy ông đồ xưa” kết cấu đầu cuối tương ứng của bài thơ giúp cho bài thơ chặt chẽ, có tính liên kết thành một thể thống nhất song cũng khắc sâu nỗi buồn của tác giả trước sự biến mất ngày càng rõ ràng của nét đẹp truyền thống dân tộc. cảnh thiên nhiên vẫn tươi đẹp, hoa đào vẫn nở nhưng ông đồ không còn “bày mực tàu giấy đỏ” ông đồ đã biến mất hoàn toàn trong bức tranh mùa xuân không thay đổi ấy, thời gian cảnh vật đã quên lãng đi người xưa, hay chính là nét đẹp truyền thống đã biến mất? câu hỏi tu từ “những người muôn năm cũ/ hồn ở đâu bây giờ?” là sự tiếc thương của tác giả với ông đồ với giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc

Với thể thơ ngũ ngôn gieo vân chân, lời thơ bình dị nhưng sâu lắng, cô đọng, lời thơ giống như một lời kể chuyện thuật lại nét đẹp truyền thống xưa của dân tộc, kết cấu đầu cuối tương ứng chặt chẽ, bài thơ chứa đựng đủ những yếu tố nghệ thuật đặc sắc nhất. Qua những nét nghệ thuật tiêu biểu đó, tác giả thể hiện nỗi niềm xót thương đối với ông đồ cũng như niềm tiếc nuối cho sự mất đi của một nền văn hóa dân tộc.

Phân tích bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên – Bài làm 4

Trước kia trên bàn thờ tổ tiên, bên cạnh cặp bánh chưng, mâm ngũ quả là đôi câu đối tết. Chính vì vậy mà những ông đồ già trên vỉa hè phố xá rất đông khách thuê viết chữ và hình ảnh đầu đội khăn xếp mặc áo the đã khắc sâu vào tâm trí của người dân Việt Nam, nhà thơ Vũ Đình Liên là một trong số đó. Để rồi tác giả  viết lên bài thơ Ông đồ với 1 niềm thương cảm sâu sắc cho thân phận 1 lớp người tàn tạ và sự nuối tiếc 1 truyền thống đẹp đẽ của dân tộc.

Mở đầu bài thơ Ông đồ hình ảnh đã xuất hiện trong dòng suy tưởng, hoài niệm của tác giả:

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua

Cấu trúc mỗi.. lại cho ta thấy ông đồ chính là 1 hình ảnh vô cùng quen thuộc với người dân Việt Nam vào mỗi dịp tết đến xuân về. Cùng với màu thắm của hoa đào, màu đỏ của giấy, màu đen nhánh của mực tàu và sự đông vui, náo nhiệt của ngày tết thì hình ảnh ông đồ đã trở nên không thể thiếu được trong bức tranh mùa xuân. Lời thơ từ tốn mà chứa bao yêu thương. Dẫu chỉ chiếm 1 góc nhỏ trên lề phố nhưng trong bức tranh thơ thì ông đồ lại chính là trung tâm, ông đã hòa hết mình vào cái không khí nhộn nhịp của ngày tết với những tài năng mình có:

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài

Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay

Từ bao nhiêu cho người đọc thấy được nghề cho chữ đã từng được mọi người rất yêu mến. Sự có mặt của ông đồ đã thu hút sự chú ý của mọi người, ông chính là trung tâm của sự kính nể và ngưỡng mộ. Hạnh phúc  không chỉ là có nhiều người thuê viết mà còn được tấm tắc ngợi khen tài – Bởi ông có tài viết chữ rất đẹp. Ba phụ âm 't' cùng xuất hiện trong 1 câu như 1 tràng pháo tay giòn giã để ca ngợi cái tài năng của ông. Giữa vòng người đón đợi ấy ông hiện lên như 1 người nghệ sĩ đang say mê, sáng tạo, trổ hết tài năng tâm huyết của mình để rồi ông được người đời rất ngưỡng mộ.Với sự ngưỡng mộ đó thì Vũ Đình Liên còn thể hiện 1 lòng tự hào về truyền thống tốt đẹp của dân tộc là chơi câu đối chữ. Nhưng liệu có bao nhiêu người thuê viết hiểu được ý nghĩ sâu xa của từng câu, từng chữ để mà chia sẻ cái niềm vui, niềm hạnh phúc với người viết ra những câu chữ ấy?. Ở khổ thơ thứ 3 vẫn nổi bật hình ảnh ông đồ với mực tàu giấy đỏ, nhưng mọi thứ đã khác xưa. Không còn đâu bao nhiêu người thuê viết- Tấm tắc ngợi khen tài mà thay vào đó là cảnh tượng vắng vẻ đến thê lương. Với cảm xúc buồn thương thấp thoáng ở 2 câu thơ trên, giờ đây cái cảm xúc đó được thể hiện trong câu hỏi đầy băn khoăn day dứt:

Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu?

 Cũng là mỗi năm nhưng lại đứng sau từ nhưng- con chữ thường làm đảo lộn trật tự quen thuộc. Số người còn chút mến yêu và kính trọng chữ nho giờ cũng mỗi năm mỗi vắng, khách quen cũng tan tác mỗi người một ngả. Để rồi 1 chút hy vọng nhỏ nhoi của Ông đồ là góp chút tài nghệ cùng mọi người vào mỗi dịp tết đến xuân về cũng dần tan biến bởi cuộc sống mưu sinh cũng ngày càng khó khăn. Bằng câu hỏi tu từ hết sức độc đáo, Vũ Đình Liên đã thể hiện 1 nỗi nuối tiếc của 1 thời kì vàng son để rồi đọng lại thành nỗi sầu, nỗi tủi thấm sang cả những vật vô tri vô giác:

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu

Giấy đỏ là thứ giấy dùng để ông đồ viết chữ lên, đó là 1 thứ giấy rất mỏng manh chỉ cần 1 chút ẩm ướt cũng có thể phai màu. Vậy mà' Giấy đỏ buồn không thắm'-  không thắm bởi lâu nay không được dùng đến nên phôi pha úa tàn theo năm tháng. Mực cũng vậy- đó là thứ mực đen thẫm để ông đồ viết chữ, trước khi dùng thì ta phải mài mực rồi dùng bút lông họa lên những nét chữ. Nhưng nay' Mực đọng trong nghiên sầu' nghĩa là mực đã được mãi từ lâu, đã sẵn sàng cho bàn tay tài hoa của ông đồ để trổ tài nhưng đã đợi chờ trong vô vọng. Các từ buồn, sầu như thổi hồn vào sự vật cùng với phép nhân hóa đã khiến cho giấy đỏ, mực tàu vốn vo tri bỗng trở nên có hồn có suy nghĩ như con người. Nỗi buồn đó không chỉ thấm vào những đồ dùng mưu sinh hằng ngày mà cảm xúc đó của ông còn lan ra khung cảnh thiên nhiên, cảnh vật khiến không gian trở nên thật đìu hiu, xót xa:

Ông đồ vẫn ngồi đó

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài giời mưa bụi bay

Tuy nghề viết chữ không được người đời yêu mến và kính trọng nữa nhưng ông đã kiên trì, cố gắng ngồi bên lề đường chờ mong sự cưu mang giúp đỡ của người đời. Nhưng đâu có 1 ánh mắt nào để ý đến ông bên lề phố, không một trái tim nào đồng cảm và chia sẻ với ông. Bằng biện pháp tả cảnh ngụ tình nhà thơ Vũ Đình Liên đã cho ta thấy 1 khung cảnh thiên nhiên thật xót xa, đìu hiu trước tâm trạng của ông đồ:

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài giời mưa bụi bay

Nhưng thật băn khoăn tại sao giờ đang là mùa xuân lại có lá vàng rơi? Phải chăng hình ảnh lá vàng rơi gợi đến sự tàn phai, tàn lụi về 1 thời kỳ, 1 lớp người trong xã hội và 1 phong tục tập quán đẹp đẽ của dân tộc Việt Nam là chơi câu đối dỏ ngày tết giờ cũng trở thành quá khứ. Hình ảnh ông đồ cũng giống như hình ảnh lá vàng rơi, đã gắng níu kéo cuộc đời thầm lặng của mình nhưng so với thời đại mới thì chỉ còn là chiếc lá úa tàn đang rơi rụng. Nỗi buồn ấy âm thầm, tê tái nó đã khiến cơn mưa xuân vốn sức sống bền bỉ cũng trở nên đìu hiu xót xa

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương

Ngoài giời mưa bụi bay

Giời – đó phải chăng là cách nói dân gian của những người tưởng như đã xa xưa lắm nhưng vẫn luôn hiện hữu. Câu thơ gợi ra tâm trạng buồn thảm của ông đồ trước cơn mưa bụi nhạt nhòa. Dẫu chỉ là mưa bay, mưa bụi nhưng nó cũng đủ sức xóa sạch đi dấu vết của 1 lớp người. Tuy đã không còn được người đời yêu mến, trong vọng nữa nhưng đối với nhà thơ thì hình ảnh này vẫn luôn khắc sâu trong trái tim:

Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

Mở đầu bài thơ Ông đồ là hình ảnh rất nhẹ và kết thúc cũng với hình ảnh rất khẽ khàng. Năm xưa khi đào nở ta thấy ông đồ ngồi bên lề đường và hòa mình vào sự đông vui náo nhiệt của phố phường. Nhưng nay cùng thời điểm đó thì  ông đã không còn nữa, hình ảnh xưa cũ cũng dần tan biến vào dòng thời gian. Tết đến xuân về, hoa đào lại nở, người người thì háo hức đi chợ sắm tết để chờ mong 1 năm đầy niềm vui và hy vọng. Tất cả đều rạo rực, tưng bừng. Cảnh còn đó nhưng người thì đâu? Giờ đây hình ảnh ông đồ chỉ còn là cái di tích tiều tụy đáng thương của 1 thời tàn, ông đã bị người đời quên lãng, bỏ rơi ngoài 1 thi sĩ Vũ Đình Liên. Dòng đời cứ trôi dần và trôi đi cả cuộc sống thanh bình đẹp đẽ, giờ chỉ còn là 1 nỗi trống trải, bâng khuâng để rồi nhà thơ cũng phải bật thành câu hỏi đầy cảm xúc:

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Hai câu thơ cuối tác giả đã trực tiếp bộc lộ cảm xúc dâng trào, kết đọng mang chiều sâu khái quát. Từ hình ảnh ông đồ nhà thơ liên tưởng đến hình ảnh những người muôn năm cũ và thi sĩ  hỏi 1 cách xót xa: hỏi mây hỏi trời, hỏi cuộc sống hỏi 1 thời đại, hỏi mà để cảm thông cho thân phận của những người muôn năm cũ đã bị thời thế khước từ. Câu hỏi tu từ đặt ra như 1 lờ tự vấn, tiềm ẩn sự ngậm ngùi, xót thương. Và tất cả những gì của 1 thời hoàng kim giờ cũng chỉ còn 1 màu sắc nhạt phai, tê tái. Với cách sử dụng thành công biện pháp tu từ, nhà thơ Vũ Đình Liên đã tái hiện lên hình ảnh ông đồ với cái di tích tiều tụy đáng thương của 1 thời tàn khiến chúng ta lại càng cảm thương, xót xa cho số phận của ông.

Chỉ với bài thơ Ông đồ ngũ ngôn ngắn gọn, tác giả đã làm sống dậy trong lòng người 1 niềm thương của sự luyến tiếc không nguôi. Đọc bài thơ ta cảm nhận được ở Vũ Đình Liên- một con người có lòng thương người, lòng nhân ái, sự cảm thông sâu sắc và luôn ân nghĩa thủy chung.

Phân tích bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên – Bài làm 5

Cảnh tàn tạ của Nho học một thời mà ông đồ là nhân chứng tiểu tuỵ cuối cùng của nó tạo nên niềm thương cảm sâu xa không chỉ đối với một lớp độc giả khi bài thơ xuất hiện. Cái khắc khoái, cái day dứt không nguôi ấy còn mãi về sau bởi vì nói đến Nho học là nói đến một nền văn hoá du nhập vào nước ta không dưới một ngàn năm. Nó gắn bó với biết mấy buồn vui, nó đắp bồi nên bao mối quan hệ, nó tạo ra lẽ sống con người,… ấy là một nén văn minh truyền giữ từ đời này qua đời khác. Trước những biến thiên của lịch sử, trước xu hướng Âu hoá, một nền kinh tế khác, một nền văn hoá khác đang tiến vào làm rạn nứt và dổ vỡ những gì trước đó tưởng như trường cửu, mãi mãi không thể đổi thay. Nén hương tưởng niệm mà bài thơ thắp lên hướng vể không chỉ một con người, mà còn một thế hệ, một nền văn hoá văn minh, một thời đại đã không còn trước quy luật tiến lên của lịch sử. Cái hay của bài thơ không chỉ ở ý nghĩa xã hội (độ rộng) vừa nêu, mà còn ở hình tượng (độ sâu) của nó. Bài thơ vừa tả cảnh vừa ngụ tình. Sự đan xen vốn là thuộc tính của nghệ thuật thơ ca ấy xuyên suốt bài thơ một cách vô cùng nhất quán. Cả hai ý nghĩa nội dung lại chứa đựng trong một hình thức thể loại, một ngôn ngữ, một kết cấu thật là độc đáo.

Để hiểu đúng bài thơ, không thể không đi vào kết cấu, một kết cấu không chỉ giản đơn là đối lập xưa và nay, quá khứ với hiện tại. Ấy là kết cấu nổi, kết cấu một tầng. Nếu như thế chỉ cần so sánh như có người đã so sánh: bài thơ mở đầu là "Mỗi năm hoa đào nở – Lại thấy ông đồ già", và kết thúc là "Năm nay đào lại nở – Không thấy ông đồ xưa". Và từ đó mà chỉ ra rằng: đó là kiểu kết cấu đầu cuối tương ứng, chặt chẽ để làm nổi bật chủ đề. Nhưng thực ra, đằng sau cái kết cấu tổng thể có tính chất khái quát vừa nêu, còn có một cái gì ở bên trong nó. Như mối liên hệ giữa quá khứ với quá khứ, một quá khứ xa với một quá khứ gần giữa hai khổ đầu (1,2) với hai khổ tiếp theo (3, 4). Và ngay trong phạm trù thời gian không thuộc thời hiện tại đã diễn ra một đối lập rồi. Hình tượng ông dồ ngay trong quá khứ đã ở vào hai đối cực: được chào đón, tiếp nhận và bị lãng quên, bỏ rơi. Vậy khai thác kết cấu bài thơ thế nào cho đúng? Phải chăng nên dựa hẳn vào dòng chảy thời gian mà bóc vào ba lớp, mà mỗi lớp ấy đéu đánh dấu bằng khái niệm "năm" vì thế mồi năm, đào ngày Tết chỉ có một lần. Đó cũng là ba nấc:

– Mỗi năm hoa đào nở…

– Nhưng mỗi năm mỗi vắng…

– Năm nay đào lại nở…

Ba nấc thang không phải lên cao mà là hạ dần xuống thấp ấy gắn với ba cảnh. Cảnh ấy có tình, được diễn tả một cách vừa đặc trưng vừa dồn nén tạo được những ấn tượng riêng cho mỗi bức tranh.

Thời kì vàng son rực rỡ của ông đồ được tái hiện thật tài hoa ở hai khổ thơ đầu. Ấy là sự song hành giữa ông đồ và ngày Tết:

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Một chữ lại nhịp nhàng, ấm áp. Ông đồ trở thành một đường nét không thể thiếu được của mùa xuân. Cứ hoa đào nở là người xuất hiện như ông già Nô-en trước đêm trừ tịch phương Tây. Hai màu đỏ, màu đỏ của hoa, màu đỏ trên giấy của người cho chữ đều nổi bật lên giữa một cái nền nhộn nhịp tưng bừng của phố xá, kẻ lại người qua đông đúc. Hai màu đỏ ấy là trung tâm tạo nên một không gian màu hồng cho các vùng kẻ chợ. Những câu thơ bằng ngôn ngữ kể, tả xinh xắn gọn gàng không êm đềm mà khêu gợi ấy phải chăng là rất thích hợp với một tâm trạng người viết thoáng chút xốn xắng. Thật tự hào cho một mĩ tục được báo tồn, những tinh hoa đang được ngưỡng mộ. Cũng vinh dự thay cho một tài năng thư pháp được tôn vinh. Hoa đào ở khổ một đã nhường chỗ cho hoa tay trong khổ hai chính là niềm vinh dự ấy:

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài

Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay

Khổ thơ mang chất kí sự, chỉ ghi chép những gì nhìn thấy như thiên kí sự Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp mà vẫn say đắm lòng người, ấy cũng bởi cái tình của người viết. Giữa nhà thơ và ông đồ có một mối tương giao, tri ki.

Hai hình tượng ấy khó tách bạch phân chia, phải chăng họ là những người cùng hội, cùng thuyền, những người đồng điệu?

Chính vì là đồng điệu mà nhà thơ có một linh cảm không vui khi cơn gió đã đổi chiều, đổi chiểu mà không hiểu vì sao mới thành ngơ ngác:

Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu?

Một chữ nhưng đặt ở đầu câu nói lên một sự thật, cũng nói lên một tâm trạng. Sự thật ấy là mọi cái đã khác xưa, tâm trạng ấy là bất ngờ, sửng sốt. Đọc kĩ khổ thơ thứ ba, ta mới nhận ra một xu thế khó lòng đảo ngược để tất cả trở về vị trí ban đầu (khổ 1). Đông ("Bên phố đông người qua") đã thành vắng ("Nhưng mỗi năm mỗi vắng"). Đến đã thành đi. Những con người quen thuộc ngày nào nay đã trở nên xa lạ. Có lẽ vẫn là những con người ấy, nhưng trong lòng họ không còn bóng dáng ông đồ. Giữa họ và ông đã diễn ra cảnh đồng sàng dị mộng. Giữa biển người mênh mông đó, ông như một hòn đảo cô đơn. Một câu hỏi nghi vấn có từ nghi vấn, có dấu chấm hỏi ở cuối câu không có lời đáp, không có hồi âm như tan loãng vào không gian hun hút thì đấy là tâm trạng xót xa, ngao ngán đâu còn của người ngoài cuộc nữa. Phải nhập thân vào hình tượng ông đồ đến mức nào mới viết được hai câu thơ, trong đó, cái thực và cái ảo xen nhau:

Giấy đỏ buồn không thắm ;

Mực đọng trong nghiên sầu…

Buồn, sầu vốn là tâm trạng con người, nhưng ở đây lại dùng cho giấy, cho nghiên. Câu thơ có vẻ không thực ấy hoá ra thành thực biết chừng nào! Ở đây cái buồn, cái sầu của ông đồ đã thấm vào giấy, vào nghiên. Đúng là "Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ?" (Nguyễn Du). Nhưng cảnh là nói chung còn giấy, mực vốn gắn với máu thịt với ông đồ, có nó ông mới khẳng định được tài hoa, mà bây giờ cũng buồn bã thế kia. Nó chính là cái tủi. Giấy đỏ đã không còn đỏ, mực đã đọng thành keo. Thật ngán ngẩm cho một thời cái đẹp đã lên ngôi nay không còn nữa. Bản thân ông, chữ thánh hiền của ông, nền văn hoá mà lối chữ tượng hình đó gìn giữ cho mai sau nào có ra gì? Biết là như thế, nhưng vì sao "Ông đồ vẫn ngồi đấy"? Câu thơ không chịu lùi bước ấy vừa như một phương châm của khí tiết không chịu thất bại trước hoàn cảnh cũng vừa như những gắng gượng cuối cùng, dã đuối sức lắm thay! Lặng lẽ, khiêm nhường, đơn côi, lạc bước. Có ông mà cũng như không có ông. Thực thì, ông đã lùi đến cái chỗ không thể lùi thêm để nhường chỗ cho kẻ qua người lại vô tình, cho lá vàng, mưa bụi:

Ônq đồ vẫn ngồi đấy,

Qua đường không ai hay,

Lá vàng rơi trên giấy ;

Ngoài giời mưa bụi bay.

Sự phủ nhận đối với ông đồ cứ tới tấp, cứ lớp lớp tầng tầng như thế, nhưng lại làm ra vẻ vô tình. Thì ra sự lạnh nhạt, dửng dưng cũng có ý nghĩa như sự giết chết con người bằng cách riêng của nó. "Chết đuối người trên cạn mà chơi" (Cung oán ngâm khúc).

Như thế là con sóng thời gian đã hai lần chứng kiến sự lên ngôi và thoái vị của Nho học ngàn năm. Nó tung hô và xô đẩy những phên dậu cuối cùng không hề thương tiếc. Vẫn là những câu thơ ngũ ngôn không đẽo gọt cầu kì mà thâm trầm ở bề sâu của nó. Vẫn là giọng thơ mang dáng dấp khách quan tả, kể mà không giấu nổi ngậm ngùi. Riêng các hệ thống chi tiết quan trọng làm nền cho bài thơ thì không ngừng biến hoá. Ở hệ thống sắc màu của giấy đỏ thì từ màu sắc thắm tươi (khổ 1) đã không còn thắm nữa (khổ 3), rồi không còn màu, chỉ còn giấy (khổ 4), thay cho giấy đỏ chỉ còn lá vàng (Lá vàng rơi trên giấy) tàn héo rụng rơi. Cũng là quy luật nghiệt ngã này trong hệ thống người thuê viết, ta nhận thấy: Sự vồ vập, ngưỡng mộ (khổ 1 và 2) đến chỗ xa lạ (khổ 3) và quên lãng (khổ 4). Hệ thống các chi tiết này tuy khác nhau, nhưng lộ trình của nó, lô gích của nó thì y hệt như nhau: hợp rồi tan, vui đến buồn, tốt tươi để tàn héo. Riêng hình tượng trung tâm, hình tượng ông đồ không nằm ngoài quy trình ấy, nhưng vì là hình tượng trung tâm, cần tập truns vào khổ cuối:

Năm nay đào lại nở,

Không thấy ông đồ xưa.

Những người muôn năm cũ 

Hồn ở đâu bây giờ?

Để hiểu được sự vắng mặt vừa đột ngột vừa không đột ngột của ông đồ, cần đặt hình tượng này trong tổng thể cả bài, trong tiến trình từ có thành không (có ở bốn khổ đầu và không ở khổ cuối). Nó đột ngột ở chỗ: trong cảnh Tết đến xuân về, chưa bao giờ vắng mặt ông đồ, còn giờ đây khi bài thơ kết thúc, không thấy ông đồ đâu. Không những vắng mặt mà địa chỉ của ông cũng không còn.

Hơn thế, ông nhập vào "Những người muôn năm cũ", nghĩa là xa lắc xa lơ. Còn nó không đột ngột ở chổ: kết thúc ấy là tất yếu của một quá trinh đi từ có đến không. Cái có đầu tiên cùa ông là một niềm vinh hạnh, ông hiện ra như một thứ hào quang. Ông đồ với tài hoa thư pháp là hội tụ bao nhiêu tinh hoa cao khiết ở chốn phường phố đông người. Ông là của họ, thuộc về họ. Có ông, có chữ viết của ông, gương mặt họ rạng rỡ hẳn lên với một niềm vui mà chỉ có hoa đào là không đủ. Những nét chữ thảo "phượng múa rồng bay" đối với mọi người, trong cả một năm là điểu khởi đầu tốt đẹp, là hi vọng ước mơ. Còn gì cao quý cho bằng. Còn sự cố mà như không chỉ thực sự xuất hiện ở đoạn sau (khổ 4). Từ hành động, ông đã trở nên bất động. Từ cánh chim tung hoành vùng vẫy, ông đã mất cả trời cao. Từ một thời hỏàng kim, ông chỉ còn là cái di tích tồi tàn của nó. Quy trình từ có đến không ở đây là một cái mốc, một sự chuyển hướng đáng buồn. Sự có mặt của ông chỉ là một thứ hình thức, một cái bóng vô hồn vì thực chất nó đã là không có, cho dù trong bài thơ nó chưa phải là dấu chấm cuối cùng, một sự sang trang mà chỉ là một nhịp cầu, một gạch nối. Sự chấm dứt vốn đã có trong thực chất ở câu "Ông đồ vẫn ngồi đấy" đến đày mới trọn vẹn, nghĩa là có một hình thức cho nội dung: cái bóng ấy cũng không còn nữa. Nó mất hút vào mênh mông, nó không còn một mảy may dấu vết. Với hai câu dầu của khổ cuối, bài thơ nhất quán trong một bút pháp kí sự, ghi chép khách quan những gì mà nhà thơ – với tư cách là một người qua đường nhìn thấy. Trong cả trường đoạn thơ trên, cho dù ta có bao nhiêu cảm xúc, tâm tình, nhưng tự nhà thơ vùi kín nó trong những chữ, những câu. Đến lúc này, sự ghìm nén nói trên không còn nữa, vì mất đi sư cân đôi, thăng bằng. Nó phải oà ra nức nở. Nức nở là ở trong lòng thôi, còn âm thanh, ngữ điệu của hai câu cuối cùng ấy chẳng qua cũng như những tiếng thở dài thật bâng khuâng man mác. Hình như có ở đây cả sự nuối tiếc, xót xa, có cả sự day dứt, băn khoăn ân hận. Bởi biết rằng trong xu thế Âu hoá về nhiều mặt, những gì cũ kĩ, cản trở sẽ phải mất đi – trong đó có cả những cái cần thiết, không nên mất đi, mà chính nhà thơ không có cách nào níu giữ được. Tâm trạng xót xa day dứt ấy chính là một sự trả giá, một trách nhiệm không còn có cơ hội bù đắp. Câu thơ như một lời tự vấn, tự trách lương tâm có khả năng đồng cảm đến bao nhiêu thế hệ từ đó về sau chính là vì thế.

Xem thêm:  Giới thiệu về chiếc bánh chưng ngày Tết- văn lớp 8

Trong cuộc đời làm thơ, Vũ Đình Liên viết không nhiều, và các bài thơ không nhiều ấy khơi nguồn từ "lòng thương người và tính hoài cổ" (Hoài Thanh). Ông đồ đã hội tụ được cả hai mạch cảm hứng ấy, nó đã là một tinh hoa.

Phân tích bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên – Bài làm 6

Hình ảnh ông đồ được khắc họa trong mốc thời gian mùa xuân, đều gắn liền với mực tàu, giấy đỏ nhưng ở hai cảnh ngộ khác nhau.

– Hình ảnh ông đồ ở thời vàng son:

Mỗi năm hoa đào nở 

Lại thấy ông đồ già 

Bày mực tàu, giấy đỏ 

Bên phố đông người quạ 

+ Ông đồ là người thuộc tầng lớp trí thức Hán học trong xã hội xưa, ông là người dạy học (dạy chữ Nho). Ông được cả xã hội tôn vinh, là nhân vật trung tâm của đời sống văn hóa dân tộc khi nền Hán học và chữ Nho đang thịnh hành. Theo phong tục, khi Tết đến người ta tìm đến ông đồ để sắm câu đối hoặc chữ Nho trang trí nhà cửa và cầu mong những điều tốt lành.

+ Vào thời điểm hoa đào nở “lại thấy” ông đồ cùng mực tàu, giấy đỏ. Nhịp điệu thơ sôi nổi, náo nức diễn tả sự xuất hiện của ông đồ già vào mỗi dịp Tết đến, xuân về. Hình ảnh ông đồ trở nên quen thuộc, gần gũi với tất cả mọi người cũng như phong tục văn hóa xin chữ lâu đời của người Việt Nam.

Bao nhiêu người thuê viết 

Tấm tắc ngợi khen tài 

Hoa tay thảo những nét 

Như phượng múa, rồng baỵ 

+ Tài hoa của ông đồ được thể hiện: hoa tay thảo những nét – như phượng múa rồng hay. Tài năng của ông được mọi người hết lời khen ngợi: bao nhiêu người – tấm tắc ngợi khen tài.

+ Như vậy, ông đồ là người được mọi người kính trọng, kính nể, là trung tâm chú ý của mọi người qua đường.

– Hình ảnh ông đồ ở thời tàn phai:

Nhưng mỗi năm, mỗi vắng 

Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm 

Mực đọng trong nghiên sầụ

+ Mỗi năm mỗi vắng – Người thuê viết nay đâu giọng thơ lắng xuống, điệp từ mỗi gợi sự xa vắng, thưa thớt dần – hình ảnh ông đồ xa vắng dần với mọi người và người yêu mến ông cũng thưa dần đi. Phép nhân hóa giấy đỏ buồn, mực sầu diễn tả hình ảnh giấy mực cũng thấm đẫm nỗi buồn thương, ảm đạm của chủ. Ông đồ vẫn ngồi đó, đường phố vẫn đông nhưng không ai biết đến sự có mặt của ông, cuộc đời đã khác, đã lãng quên ông. Hình ảnh ông lạc lõng, lẻ loi. Nỗi buồn, nỗi sầu của ông đồ như bao trùm cảnh vật xung quanh ông, thấm đẫm không gian đất trời. Giọng thơ lắng đọng, buồn thương man mác.

+ Như vậy, ông đồ không còn được coi trọng, vị thế của ông đã khác.

– Sự đối lập giữa hai hình ảnh ông đồ thời vàng son và thời tàn phai thể hiện sự tàn lụi của một nền học thuật, của một truyền thông văn hóa.

Ông đồ vẫn ngồi đấy 

Qua đường không ai hay 

Lá vàng rơi trên giấy 

Ngoài trời mưa bụi baỵ 

+ Nền học thuật xưa coi trọng chữ Hán, người dân có truyền thống xin chữ cầu may vào những dịp đầu năm. Hoa đào nở – mực tàu – giấy đỏ cùng hình ảnh ông đồ già gợi không khí của văn hóa, không khí của cái đẹp. Thêm vào đó là hình ảnh đông vui, tấp nập của người qua đường tới thuê viết chữ, xem chữ, ngợi khen ông đồ. Nhưng truyền thống văn hóa tốt đẹp đó đang dần tàn lụi bởi mỗi năm mỗi vắng, những người thuê viết nay không còn tới. Bởi thế, vẫn là không khí văn hóa của cái đẹp (hoa đào nở – mực tàu – giấy đỏ – ông đồ) nhưng tất cả đã mang một sắc thái khác: giấy buồn, mực sầu, ông đồ ngồi bên đường mà không ai hay, quang cảnh xung quanh cũng gợi sự tàn lụi, buồn với những hình ảnh lá vàng, mưa bụi.

Năm nay đào lại nở 

Không thấy ông đồ xưa 

Những người muôn năm cũ 

Hồn ở đâu bây giờ?

+ Khổ thơ cuối, hoa đào vẫn nở nhưng hình ảnh ông đồ đã biến mất gợi lên một nỗi buồn, một niềm trắc ẩn sâu xa cho những người đã trở thành cũ kĩ trước năm tháng và bị thời thế khước từ. Đó là sự biến mất không chỉ của một người (ông đồ) mà còn là cả một thế hệ (những người yêu và tôn thờ cái đẹp) trong xã hội đương thời.

– Khắc họa hình ảnh ông đồ, bài thơ toát lên niềm cảm thương sâu sắc trước một lớp người đang tàn tạ và nỗi nhớ tiếc cảnh cũ người xưa của nhà thơ. Mở đầu bài thơ là hình ảnh ông đồ già, kết thúc bài thơ không thấy ông đồ. Kết cấu “đầu cuổì tương ứng” và tứ thơ “cảnh cũ người đâu” đã thể hiện thành công niềm thương tiếc khắc khoải của nhà thơ khi vắng bóng ông đồ. Đó là niềm cảm thương chân thành trước số phận, tình cảm của những ông đồ đang tàn tạ khi thời thế đổi thay. Đồng thời nhà thơ thể hiện tâm trạng, nhớ nhung tiếc nuối cảnh cũ người xưa nay đã vắng bóng. Tâm trạng này thể hiện một tinh thần nhân văn và một tinh thần dân tộc cao đẹp (tiếc nuối phong tục văn hóa truyền thống đã tàn phai).

Phân tích bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên – Bài làm 7

Trong phong trào thơ mới giai đoạn 1932 – 1945 có rất nhiều gương mặt tên tuổi nhự: Thế Lữ, lưu trọng lư, xuân diệu, huy cận, chê lan viên, hàn mặc tử, Vũ Đình Liên,… Nhưng mỗi khi nhắc đến thi sĩ Vũ Đình Liên, người yêu thơ và say thơ lại nhớ ngay bài ông đồ. Chính vì thế, đọc bài thơ này, giáo sư tiến sĩ nguyễn hoành khung đã nhận xét: “Ông đồ có thể coi là một áng thơ toàn bích, là một trong những bài thơ hay nhất trong phong trào thơ mới”.

Đây là một ý kiến hay!

Như chúng ta đã biết, ông đồ là nhân vật thường được nhắc đến trong xã hội Việt Nam thời trước, ông đồ thường có tài viết chữ nho với những nét đẹp tuyệt vời. Họ cũng rất thích làm nghề gõ đầu trẻ. Cứ mỗi dịp xuân về trên đất nước, những ông đồ chọn hè phố làm địa điểm để viết nhừng câu đối phục vụ thị hiếu của mọi người. Nhưng sau khi chế độ khoa cử phong kiến không còn nữa, chữ ‘nho yếu thế, ông đồ trở thành người lỡ vận, chỉ còn là "cái' di tích đáng thương của một thời tàn”.

Bài thơ ông đồ thế hiện niềm cảm thương sâu sắc, thái độ yêu thương, rất mực trân trọng của thi sĩ Vũ Đình Liên đôi với một lớp người đang trở nên lạc lõng và bị gạt ra ngoài lề cuộc đời. Mặt khác, bài thơ chứa đựng chất hoài cổ đậm đà, da diết.

Khổ thơ đầu hiện lên hình ảnh một ông đồ già quen thuộc:

“Mỗi năm hoa đào nở lại thấy ông đồ già bày mực tàu giấy đỏ bên phố đông người qua”.

Khổ thơ này như một bức tranh thơ kép. Bức tranh thứ nhất là hình ảnh một người nghệ sĩ say mê cái đẹp đang ngồi giữa những bông hoa đào rơi rơi, bên cạnh là nghiên mực tàu bốc mùi thơm cùng phong giấy đỏ. Xung quanh vị trí ông đồ ngồi là khung cảnh đường phô" ồn ào, náo nhiệt, vui vẻ,…. Bức tranh thứ hai ẩn chứa sau bức tranh thứ nhất là bức tranh của dáng hình quê hương tươi đẹp, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc vì ông đồ đại diện cho truyền thống “chơi chữ” cao khiết, quý báu của dân tộc ta.

Khổ thứ hai là hình ảnh ông đồ thời vàng son:

“Bao nhiêu người thuê viết tấm tắc ngợi khen tài hoa tay thảo những nét như phượng múa rồng bay”.

Rõ ràng tài năng hiếm có của ông đồ đã chinh phục được nhiều người dam mê “chơi chữ”, ông đồ đón nhận biết bao lời ngợi khen, ca tụng. Đồng thời đó cũng là niềm vinh dự, tự hào tạo nên sức mạnh tinh thần lớn lao. Ông đồ đã thả hồn theo nét chữ vuông vắn, tươi tắn. Ông đồ say sưa mang nét đẹp của nghệ thuật phụng sự cho cuộc đời. Ông đồ là hiện thân của cái đẹp.

Nếu như hai khổ tho' đầu hiện lên thời hoàng kim của ông đồ thì hai khổ tho' ba và bốn, ông đồ xuất hiện trong khung cảnh lỡ vận, tàn tạ: “nhưng mỗi năm mỗi vắng người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm;

Mực đọng trong nghiên sầu”.

Câu tho' “người thuê viết' nay đâu?” Là một câu hỏi tu từ biểu thị cảm giác trống vắng, buồn bã, nuối tiếc, đồng thời cũng là một tiếng khóc nức nở, khóc cho cảnh đời mau thay đổi, héo hắt.

Nỗi buồn giấy mực thật não nề:

“Giấy đỏ buồn không thắm mực đọng trong nghiền sầu”.

Phép tu từ nhân hóa đã làm cho những vật vô tri, vô giác như giấy, mực cũng mang nặng tâm trạng con người. “giấy” buồn khổ quá nên không thắm ỉên được. “mực” sầu não lắng đọng trong nghiên. Giấy, mực không được chiếc bút lông và bàn tay điệu nghệ của ông đồ kết họp trỏ' thành bo' vơ, lạc lõng. Nỗi buồn cứ thế được tăng cấp:

“Ông đồ vẫn ngồi đấy,

Qua đường không ai hay,

Lá vàng rơi trên giấy;

Ngoài trời mưa bụi bay”..

Địa điểm ông đồ xuất hiện trên hè phố, thời gian vào độ xuân về. Bên cạnh ông đồ vẫn là giấy, mực, khách qua đường. Nhưng bây giờ có sự đổi thay: những người đi đường đã quên ông. Ông ngồi đấy mà ai nào hay biết. Một chiếc lá roi không đủ làm nên tiếng ồn, ít gọi sự chú ý cho mọi người. Đặc biệt, trong bài tho' này “lá vàng rơi” là một chi tiết đắt giá, có sức gọi hình, gọi cảm lớn lao “làm xao xác cõi lòng” những người yêu tho'. Những năm về trước, thời đắt khách, “lá vàng rơi” sẽ không còn nằm trên giấy vì ông đồ phải nhặt đi đế viết nhanh cho những người hâm mộ. Còn tại thời điểm này, “lá vàng rơi trên giấy”, ông đồ chẳng buồn nhặt đi là biểu thị của sự ế ẩm, vắng khách.

Chắc có lẽ ai trong chúng ta đọc bài ông đồ cũng không thể nào quên được hình ảnh mưa bụi bay. Vì sao lại như thế? Câu tho “ngoài trời mưa bụi bay” chỉ là câu tho tả cảnh mưa bụi mùa xuân thường gặp ởvùng bắc bộ, hiểu như thế e rằng chưa cảm hết cái hay của tho Vũ Đình Liên. Câu tho tả cảnh ít nhưng diễn tả tâm trạng rất nhiều.

Cách đây 1200 năm, trong bài thanh minh, một thi sĩ nổi tiếng đời đường đã viết:

“thanh minh thời tiết vũ phân phân lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn”.

Bản dịch:

“Thanh minh lất phất mưa phùn khách đi đường thấm nỗi buồn xót xa”.

Như vậy, những hạt mưa phùn lất phất, mưa bụi giăng giăng ngoài trời tuy dịu êm, man mác cũng đủ làm day dứt những mảnh hồn người. Nỗi buồn thấm dần vào tận đáy sâu hun hút của tâm hồn.

Bài tho' kết thúc trong nhạc điệu buồn:

“Năm nay đào lại nở không thấy ông đồ xưa.

Những người muôn năm củ hồn ở đâu bây giờ?”.

Nếu mở đầu bài thơ, Vũ Đình Liên viết:

“Mỗi năm hoa đào nở lại thấy ông đồ già” thì kết thúc tác giả viết:

“Năm nay đào lại nở không thấy ông đồ xưa”.

Lối kết thúc như thế được gọi là đầu cuối tương ứng. Kết cấu này hay gặp trong thơ đường, thơ tống. Phải chăng đây là cái “cảnh củ người đâu". Ngày xưa, với kết cấu này nhà thơ thôi hộ đời đường đã đế lại cho đời một kiệt tác đề đô thành nam trang'.

“Tích niên kim nhật thử môn trung nhân diện đào hoa tương ánh hồng nhân diện bất tri hà xứ khứ đào hoa y cựu tiếu đông phong”

Khương hữu dụng dịch bài thơ này như sau:

“Ngày này trong cửa năm nào

Má đào cùng với hoa đào thắm đôi

Má đào đi mất đâu rồi

Hoa đào năm trước còn cười gió đông”.

Cũng như bài thơ này, bài thơ ông đồ vẫn làm day dứt lòng người. Cảnh cũ năm nào vẫn còn đó nhưng người xưa đã vắng bóng, nhớthương này biết thuở nào nguôi? Nỗi buồn này năm tháng có phôi pha? Phải chăng ông đồ nay đã thành người thiên cổ nên mùa hoa đào này mãi vắng bóng ông trên đường phố cũ? Phải chăng xã hội thực dân phong kiến đương thời với những nhố nhăng, những cái mà người ta gọi là tây âu hóa đã làm tiêu hao biết bao giá trị văn hoá lẫn tinh thần nên ông đồ dù còn sống không thể nào ngồi viết câu đối như ngày nào được nữa. Ông đồ là người ý thức được nhân phẩm, danh dự của mình hơn ai hết. Ông sẵn sàng làm “người muôn năm cũ” – người của một thời đã xa, nay chỉ còn trong hoài niệm mà thôi!

Câu cuối của bài thơ “hồn ở đâu bây giờ?” Là một câu hỏi tu từ biểu thị sự ngơ ngác, nuối tiếc, bâng khuâng của thi sĩ vù đình liên trước cảnh đời dâu bể, đồng thời cùng thế hiện sâu sắc nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ. Hoài cổ có nghĩa là nhó' tiếc vể những dĩ vãng xa xưa nay chỉ còn trong kí ức, trong kỉ niệm.

Bài thơ ông đồ thể hiện chất hoài cổ ở chỗ: thi sĩ Vũ Đình Liên nhớ tiếc thời hoàng kim trước kia, nay đã suy tàn. Vũ Đình Liên nhớ đến ông đồ nho ngồi viết câu đối, nhớ những nét chữ đẹp, tài hoa; nhớ những người dam mê “chơi chữ”. Mặt khác, nhà thơ còn thể hiện chất hoài cố trên tứ thơ xưa tạo nên một giọng điệu thơ hàm súc.

Tóm lại, ông đồ là “một áng thơ toàn bích” ở từng câu, từng chữ, từng ý thơ. Bài thơ có 20 dòng, mỗi dòng có năm chữ, mỗi khổ bốn câu nhưng câu nào cũng hay, thậm chí có câu lên tới đỉnh cao của nghệ thuật. Lời thơ nhẹ nhàng, mộc mạc nhưng ý thơ ngoài lời, để lại trong tâm tư người đọc nỗi nghẹn ngào, xúc động lẫn tiếc thương, day dứt. Có thế nói, bài thơ ông đồ là kết tinh phong cách nghệ thuật của hồn thơ Vũ Đình Liên, là “một trong những bài thơ hay nhất trong phong trào thơ mới. ”

Check Also

Phân tích con người Nguyễn Khuyến qua bài thơ Thu Điếu

Phân tích con người Nguyễn Khuyến qua bài thơ Thu Điếu

Phân tích con người Nguyễn Khuyến qua bài thơ Thu Điếu Bài làm Mùa thu …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *