Home / Ôn thi môn Ngữ văn / Ngữ văn lớp 11 / Phân tích bài thơ Tràng Giang (Huy Cận) – Văn mẫu lớp 11

Phân tích bài thơ Tràng Giang (Huy Cận) – Văn mẫu lớp 11

Phân tích bài thơ Tràng Giang (Huy Cận) – Bài số 1

Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng của nền văn học Việt Nam, ông là người chiến sĩ cách mạng và những tâm sự về thời cuộc đã được thể hiện mạnh mẽ trong các tác phẩm của ông, khi ông đang viễn cảnh ngắm những sự vật trôi trên dòng sông Tràng Giang dài sâu thẳm nó biểu hiện những tiếng lòng của con người.  

Cả bài thơ là những lời thơ đượm buồn và nó bao trùm lên không gian của cả bài thơ, với lời thơ thiết tha nhẹ nhàng, nó làm nên những giá trị thơ vô cùng mạnh mẽ và da diết, tác giả đã mở đầu bài thơ với cung bậc cảm xúc đậm buồn và mang những nét riêng:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng”.

Hình ảnh mở đầu của bài thơ đó là tác giả mượn hình ảnh của sóng để nói lên tâm trạng của chính bản thân mình, sóng gợn tràng giang những nỗi buồn man mác, dòng nước trôi đi để lại những cảm xúc và tình cảm nồng cháy trong hình tượng thơ, mượn sóng để nói về sự tác động của ngoại cảnh đến tâm hồn của chính mình, những nỗi buồn được nhân lên gấp đôi, nó điệp điệp khúc khúc ngân nga lên những nhịp sóng riêng và mang màu sắc giá trị của sự sống con người.

Hình ảnh thơ đậm chất lãng mạn nó thu hút con người vào những vòng cuốn riêng, và tạo lên những ưu tư sâu sắc cho những cảm xúc lãng mạn với những lời thơ hay, nó mang những lời tự nói để diễn tả tâm trạng của chính bản thân mình, dòng nước trôi đi qua những con sóng làm vỗ bờ cát càng làm cho hình ảnh thơ mộng và huyền bí hơn, những gí trị to lớn mạnh mẽ mà lời thơ đem lại nó mang chất thơ nhưng lại ngập tràn đượm buồn những cảm xúc. Tràng giang đây là con sông dài, và những tình người ba la mênh mông đang bị sóng nước mênh mang làm cho có tâm trạng cô đơn thơ mộng. Với hình ảnh thơ hay tác giả đã vẻ ra những lời thơ hay và mang đậm màu sắc, những hình ảnh thơ mang giá trị to lớn để diễn tả những hình ảnh mang chất nhạc buồn.

Nỗi buồn mênh mang cùng với khoảng không gian vô tận làm cho tâm trạng của con người có chút mung lung và đầy ắp những nỗi buồn, những hình ảnh thơ mang giá trị và đậm sức sống nó cũng thể hiện được những tình cảm mạnh mẽ của con người đối với cuộc sống, đối với thiên nhiên. Những hình ảnh trên một dòng sông Trường Giang rộng mênh mang làm cho con người có những cảm giác rất lạ, những con thuyền đang trôi trên những dòng nước. Ở đây tác giả đã sử dụng những cụm từ láy như điệp điệp hay song song để diễn tả mức độ tăng lên của sự vật, điệp điệp để diễn tả tâm trạng buồn rầu và nó mang những nỗi buồn lớn lao đến vô tận của con người, những hình ảnh thơ mang đậm cảm xúc cũng đã diễn tả được sâu sắc những hình ảnh mang đậm màu sắc và thi vị của cuộc sống.

Những con thuyền đang xuôi mái, ở đây nó cũng biểu hiện những trạng thái tự nhiên của những sự vật trên sông, nhưng hình ảnh con thuyền xuôi mái dưới dòng nước, đang có chút gợn sóng, mà sóng ở đây là tác giả thổi hồn mình vào làm cho lời thơ nó có chất buồn và mang những điều kì lạ, khi thuyền cặp bến về, thì những dòng nước lại buồn, ở đây tác giả đã nhân hóa lên dòng xong biết buồn, chính dùng biện pháp này để nói lên tâm trạng của chính bản thân mình, những hình ảnh mang giá trị to lớn và vô cùng sâu sắc đối với mỗi người, hình tượng thơ mang những giá trị về sự sống và màu sắc, ở đây mượn hìn ảnh của thuyền và dòng sông để nói lên tâm trạng của chính tác giả khi ngắm nhìn dòng sông Trường Giang dài và rộng, những lời thơ mang chất nhạc buồn làm gia tăng lên những giá trị cảm xúc của tác giả, trên dòng sông đó tác giả còn quan sát thấy những cành củi khô đang dạt dào trôi trên những dòng nước, tác giả đã dùng một biện pháp đảo ngữ để nói về số phận lênh đênh chưa biết trôi dạt về đâu của con người, củi một cành khô lạc mấy dòng, với sự sử dụng ngôn ngữ đậm giá trị, nó làm gia tăng lên mức độ biểu cảm của lời thơ đối với cả bài thơ.

Tác giả còn quan sát được rất nhiều thứ đang tồn tại xung quanh một dòng sông này, với những hình ảnh của cồn cát nhỏ, những  ngọn gió đìu hiu thổi:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”

Những ngọn gió vẫn đang nhẹ thổi trên dòng sông, làm cho lòng người có những cảm giác man mác, và sóng vỗ trên những rặng liễu và đìu hiu những nỗi buồn man mác của con người, giá trị thơ để lại cho chúng ta đó là những hình ảnh mang đậm giá trị và màu sắc thơ giàu sức biểu cảm nó đã mang lại được những giá trị to lớn, lơ thơ đã nói về mức độ thưa thớt của sự vật hiện tượng, và trong không gian yên tĩnh đó xuất hiện những tiếng của làng xa đang buồn vãn chợ chiều… trên cao tác giả đang ngắm nhìn những ánh sáng hiu hắt và những ánh nắng từ trên cao rọi xuống, hình ảnh thơ thật dài, thơ mộng, và tạo nên những sức sống mạnh mẽ và thu hút lòng người, giá trị của lời thơ mang màu sắc quê hương, những bến cô lieu những dòng sông dài đậm chất buồn và cả cảm xúc về những nỗi nhớ, và sự mênh mang của đất trời.

Những hình ảnh thư mang giá trị to lớn khi nói về những sự phiu bạt và không định hình, dùng thiên nhiên để nói lên tâm trạng của chính mình, đây là phong cách nghệ thuật độc đáo và thu hút được sự hấp dẫn của người nghe, hình tượng thơ giàu giá trị, nó mang những cung bậc riêng và những tâm trạng riêng biệt sâu sắc dành cho mỗi người:

Bèo dạt về đâu hàng lối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cần gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Ở đây câu thơ đã mang đậm cảm xúc về số phận lênh đênh chưa biết đi về đâu của con người, những hình ảnh đó biểu hiện những cung bậc cảm xúc giàu giá trị và nó mang những lời thơ sâu lắng đem lại niềm tin yêu và những khoảnh khắc đáng nhớ trong con người, những hình tượng thơ mang màu sắc của thiên nhiên của dòng sông, những cánh bèo trôi dạt trên dòng sông diễn tả những số phận hẩm hiu không biết đi về đâu của tác giả, một khoảng không gian mênh mông sâu lắng, và những cảm xúc khó tả của con người, những tình cảm đó vẫn lặng lẽ, tiếp những bãi vàng, đó là những bãi cát trên biển xanh đó là những dòng sông rợp bóng mát.

Cả bài thơ là những lời bộc bạch tâm trạng buồn cô đơn của tác giả, ở đây tác giả đã dùng hình tượng thiên nhiên để diễn tả cảm xúc của mình.

Phân tích bài thơ Tràng Giang (Huy Cận) – Bài số 2

Tràng giang là một trong những bài thơ hay nhất trong tập thơ “Lửa thiêng”. Nó phản ánh một nỗi buồn mênh mông da diết, một thiên nhiên khoáng đạt nhưng buồn. Đó là nỗi buồn dường như vô cớ siêu hình nhưng trong tận cùng sâu xa thì đây chính là nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn về quê hương đất nước.

Hai dòng thơ đầu là một cặp chứa đựng nghệ thuật đối của Đường thi. Trên cái nền mênh mông của sóng nước tràng giang, Huy Cận cho xuất hiện một hình tượng chiếc thuyền nhỏ nhoi điểm nhãn cho bức tranh ấy có thần.

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song”.

Câu đầu cho thấy mối quan hệ tác động giữa khách quan và chủ quan. Dòng tràng giang xuất hiện những cơn sóng rất nhẹ, thế nhưng nó có khả năng gợi lên những lớp sóng trong tâm hồn người rất dữ dội. Sóng nước tràng giang tạo nên sóng buồn “điệp điệp” trong lòng người. Tràng giang gợi cho ta vè một con sông dài thế nhưng vần “ang” đã cộng hưởng với nhau tạo ra một tiếng vang. Theo Xuân Diệu thì tràng giang không chỉ là sông dài mà còn là sông rộng, sông sâu. Nó không chỉ là con sông gợi gợi tới Hồng Hà, là con sông tạo cảm hứng cho bài thơ này – hay sông La dòng sông quê hương của tác giả, dòng sông đã thổi vào hồn cho “Tràng giang” – mà nó còn là con sông của thời thế, con sông cuộc đời. Con sông ấy bắt đầu từ một quá khứ mông lung, nó chảy lửng lờ giữa lòng vũ trụ rồi nó trôi đến tương lai cũng hết sức mông lung.

Xem thêm:  Phân tích Bài thơ số 28 (Ta-go) - Văn mẫu lớp 11

Giữa những lớp sóng của nỗi buồn hiu hắt xuất hiện hình tượng một con thuyền thật cô đơn trong buổi chiều tàn. Cũng hình ảnh này, trong thơ Bà Huyện Thanh Quan đã cho bao thế hệ độc giả cảm nhận được dư vị bàng bạc của nỗi buồn:

“Gác mái như ông về viễn phố”

Còn con thuyền của Huy Cận thì không có bóng ngư ông, cũng không có ai chủ động gác mái chèo và không hề có một bến xa nào chờ đợi nó. Thơ Huy Cận chứa đựng một nỗi buồn trần thế ở bên trong, nên ta có thể hiểu con thuyền ấy là thân phận của con người. Tràng giang ấy chính là dòng đời bạc bẽo, cho nên con thuyền không thể trôi trên nước mà “song song” với nước.

Trong thực tế thuyền không “song song” với nước vậy thì không có quan hệ ngược chiều “thuyền về nước lại”. Rõ ràng ở đây con thuyền ấy vẫn lầm lũi trôi về xa và dòng nước “song song” đã không còn đồng hành với thuyền. Nó quay trở lại mặc cho thuyền trôi. Đó là sự ngoảnh mặt quay lưng của cuộc đời với những cá nhân đau khô. Ở cái nơi dứng tình, đoạn tuyệt giữa thuyền và nước xuất hiện những con sóng vô hướng với sầu trăm ngã:

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngã”

Như vậy nỗi buồn đã chuyển hóa thành sóng. Buồn “điệp điệp” là một nỗi buồn định hương theo không gian trôi của tràng giang giờ đây đã trở thành cái sầu vô hướng lan tỏa toàn vũ trụ.

Câu thơ thứ tư là một sự sáng tạo đọc đáo của Huy Cận.

“Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Hình tượng cành củi khô trên dòng tràng gian gợi cho ta thân phận một kiếp người. Trong quá khứ đây là một cành cây xanh tươi, nó được sống với nhau xanh của lá, với nhựa sống của cây. Ấy vậy trong hiện tại nó đã bị khô héo, đã phải lìa cội gốc để thụ động phiêu bạt mà không hề định hướng được cho mình tương lai. Rõ ràng cành củi khô nhỏ bé trôi trên sóng nước tràng giang thì không thể hứa được điều gì tươi sáng cả.

Nếu khổ thơ đầu tiên là những sự vật được nhìn trên sóng nước tràng giang, thì đến khổ thơ thứ hai ta bắt gặp một không gian ba chiều trên con sông dài, sâu, rộng ấy cùng với nỗi buồn thấm thía.

Câu thơ thứ nhất cho ta thấy bờ của tràng giang cồn bãi gập ghềnh. Nó không được phẳng lì như bãi cái trên con sông Đuống trong bài thơ Hoàng Cầm:

“Lơ thơ cồn nhỏ, gió đìu hiu”

Những cồn đất ấy nó đứng im nhưng cảm giác rợn ngợp của con người lại khiến cho nó chuyển động. Cồn nhỏ thì “lơ thơ” còn ngọn gió thì đìu hiu đầy âm khí chết chóc. Gió cứ lận quất, lan thang trong không gian của nghĩa địa ấy khiến lòng người trở nên hoang vắng, rờn rợn.

Vì thế mà nhà thơ muốn tìm tới một không gian xa hơn, có bóng dáng của con người hơn. Ông muốn được nghe âm thanh của sự sống dù chỉ là tiếng chợ vãn buổi chiều.

“Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”

Huy Cận giải thích: đâu đây có những tiếng thì thào nho nhỏ của một phiên chợ vãn ở làng xa nào đó. Còn Xuân Diệu thì cho rằng chẳng có tiếng chợ vãn nào ở làng xa cả, chỉ có cồn nhỏ và gió “đìu hiu” cũng khát vọng được nghe tiếng người nhưng không có.

Hai câu thơ tiếp theo là không gian ba chiều của tràng giang, nó kiểm soát toàn vũ trụ. Trước hết là chiều dọc, nó được nhìn bằng một cái nhìn rất “động”.

“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót”

Nhà thơ đã rất tinh tế khi quan sát được cái vẻ đẹp thi vị của buổi chiều trên sông nước quê hương. Trời càng về chiều những vạt nắng như được đổ từ trên cao xuống thấp, càng về chiều càng có sự phân biệt sáng tối; dưới đất sẫm màu, trên trời vàng rực nắng. Do đó ánh sáng càng xuốn thì trời càng bị đẩy lên cao. Nhìn vào bầu trời cao vút ta có cảm giác không gian như lộn ngược, ta cứ nghĩ rằng mình đang rơi xuống một cái hang sâu thăm thẳm. Vì thế mà ba tiếng “sâu chót vót” được dùng ở đây rất hay và vô cùng độc đáo.

Sau chiều dọc thì chúng ta gặp một chiều ngang, chiều rộng:

“Sông dài, trời rộng bến cô liêu”

Ở cái hệ tọa độ ba chiều ấy ta thấy xuất hiện một giá trị mong manh, nhỏ nhoi, cô độc là “bến cô liêu”. Tự nó mang ý nghĩa biểu tượng cho một kiếp người đáng thương trong vũ trụ bao la, mênh mông.

Đến khổ thơ thứ ba đành phải quay lại với mặt nước tràng giang, vì đâu đâu cũng tràn ngập bầu không khí ảm đảm, đau thương. Giờ đây không chỉ có một con thuyền, một cành củi, một thân phận cá nhân mà là số phận nổi trôi của cả cộng đồng vì không biết sẽ về đâu.

“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng”

Câu thơ tiếp theo mong ước sẽ có một sự vật đâm ngang, lao vút qua dòng tràng giang để chủ động tìm một giá trị gì đó cho chính mình. Ở đây ước muốn có một chiếc đò ngang chờ người nối hai bờ vui đã đối lập chua chat với hiện thực. Tràng giang đã phủ định tuyệt đối bằng chữ “không” với cái mong ước nhỏ bé ấy.

“Mênh mông không một chiếc đò ngang”

Câu thơ tiếp theo là một khát vọng đã được giảm thiểu:

“Không cầu gợi chút niềm thân mật”.

Thôi thì không có chuyến đò ngang ta chỉ cần một chiếc cầu để nối bờ của “cồn nhỏ”, “gió đìu hiu” với bờ có cây xanh và bãi cát vàng. Vậy mà chiếc cầu ấy cũng không hề có thực. Nhà thơ cảm thấy nhận được sự cô đơn lạc loài đang vây bủa. Khát vọng không phải lênh đênh như thuyền với cành củi khô, như cánh bèo dạt trôi; kháy vọng muốn thoát khỏi bờ sông lãnh lẽo, hoang vắng đã khiến cho nhà thơ hướng tới mong muốn hòa nhập vào xã hội để tìm kiếm sự đồng cảm, giao tiếp với con người. Và thật thất vọng biết bao nhiêu với một dấu hiệu nhỏ mong “gợi chút niềm thân mật” với xã hội loài người cũng không có nốt.

Không thể thực hiện được điều mình ước muốn, nhà thơ đành ngậm ngùi sống với khát vọng thầm kín bằng nỗi buồn lặng lẽ và đôi mắt mong ngóng:

“Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Khác với những hình tượng thơ hiu hắt trên sông nước tràng giang. Câu thơ này xuất hiện một cái nhìn thế giới rất sáng trong. Đó là màu xanh của sự sống, là màu vàng rực rỡ của niềm vui hạnh phúc. Như vậy là ước muốn sang bờ bên kia để hòa nhập với “bờ xanh tiếp bãi vàng” với “niềm thân mật” nhưng không thể thực hiện được nên nhà thơ đành phải ngắm nhìn trong rung rưng, ngậm ngùi.

Khổ thơ cuối cùng là một không gian xa tít tắp phía chân trời tràng giang. Đó là một xứ sở của yên bình hạnh phúc. Nơi ấy con người tìm lại được chính mình gắn bó với gốc rễ, quê hương, xứ sở; không phải lênh đênh lạc loài:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc”

Đây là câu thơ tả cảnh hoàng hôn buôn xuống, mặt trời tỏa ra những tia nắng gay gắt, chói lọi. Phía chân trời tràng gian xuất hiện những nấm mây trắng nhỏ. Chỉ trong chốc lát, lớp mây này đùn lên lớp mây kia. Và rồi không gian ba chiều trống rỗng của tràng giang bị những đám mây khổng lồ chiếm lĩnh toàn bộ. Mặt trời chiếu vào những núi mây ấy khiến cho nó trắng xóa, sáng lòa như những hòn núi được đúc bằng bạc. Câu thơ này thực ra lấy ý từ hai câu nhớ nhà của Đỗ Phủ:

“Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm

Mặt đất mây đùn, cửa ải xa”

Người trí thức Tây học Huy Cận sau bao nhiêu lần vô vọng tìm kiếm nhưng không gian “gợi chút niềm thân mật” đã phát hiện ra được không gian để mình giải tỏa niềm đau là quê hương, là xứ sở Việt Nam. Vì vậy hình tượng cánh chim bay trong hoàng hôn tràng giang không ai khác hơn là hóa thân của chính Huy Cận.

“Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”

Cánh chim ấy cũng nho nhoi giữa đất trời vô hạn mênh mông nhưng nó khác củi kia, thuyền nọ là cái thế chủ động. Nó đã cảm nhận được cái sức nặng của hoàng hôn vô vị.  Nó nghiêng cánh trút hết những niềm đau, nỗi khổ xuống tràng giang. Lòng của nó nhẹ nhõm để bay về hòn núi bạc.

Xem thêm:  Bình giảng khổ đầu bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm

“Lòng quê dợn dợn vời con nước”

Câu thơ thứ hai xuất hiện hai tiếng “lòng quê” như vậy nghĩa là đã xuất hiện hình tượng con người. “Lòng quê” thể hiện một tấm lòng hướng về quê hương, về cha mẹ và những người thân yêu. Rõ ràng trở về với cội nguồn để là người Việt Nam chính là giải pháp đúng đắn nhất để giải thoát những nỗi cô đơn, những sóng gió phũ phàng của cuộc đời ở tràng giang:

“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Khói sóng là một yếu tố khách quan bên ngoài, nó gợi lên cho Thôi Hiệu một nỗi nhớ nhà:

“Quê hương khuất  bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”

(Tản Đà dịch)

Nhưng đến Huy Cận thì không cần có khói sóng tức là không có sự gợi ý của khách quan mà vẫn nhớ nhà. Như vậy nhờ nhà đã có sẵn trong nhà thơ, bó bộc lộ trực tiếp mà không cần có một sự gợi ý bên ngoài.

Thực ra dù không có khói sóng nhưng đọc ba câu thơ trên ta thấy có rất nhiều yếu tố khiến Huy Cận nhớ nhà. Đó là những núi bạc, là cánh chim chiều trút cô đơn để bay về nơi hạnh phúc, là một khối “lòng quê” đang “dợn dợn vời con nước”. Bao nhiêu yếu tố ấy cũng đã đủ sức gợi nhớ quê hương đâu cần gì phải có khói sóng trên sông.

“Trang giang” là một trong những bài thơ rất đặc sắc, “rất Huy Cận”. Với những nét bút chấm phá thân tình về tạo vật, tâm sự nhẹ nhàng mà thâm trầm của một tâm hồn trẻ vội sớm già đã có khả năng đối thoại thấm thía với người đọc về vũ trụ trong ngọn lửa thiêng hội tụ lẽ sống nhân sinh mang tính “lương” và chất “thiện”.

Phân tích bài thơ Tràng Giang (Huy Cận) – Bài số 3

Nếu ai đã từng đọc thơ Huy Cận, ăn hẳn sẽ không thể không nhận ra rằng: Có những vần thơ của ông khiến ta buồn da diết buồn thắt ruột, nhưng cũng có những bài thơ mà ý vị của nó mang một cái buồn rất tinh tế!. Đọc “Tràng Giang” – là một hiện tượng như thế!. Đọc “Tràng Giang” thấy nó man mác, phảng phất nhạc điệu như bài Đăng Cao của Đỗ Phủ.

Vô Biên lạc mộc tiêu tiêu hạ
Bất tận trường giang cổn cổn lai
Ngàn cây là rụng xào xạc
Dòng sông dằng dặc sóng cuộc trôi

Quả đúng như vậy, Trong hồn thơ Huy Cận, trong cái tinh túy, sâu xa của Tràng Giang, chất cổ điển và hiện đại đan cài vào nhau như sự hòa nhập điên cuồng của phương Đông và phương Tây. Thật mới lạ! Thật độc đáo!

Ngay tiêu đề “Tràng Giang” cũng đã rất ngụ ý. Khong phải Trường Giang mà là Tràng Giang. Để không nhầm với con sông lẫn của Trung Quốc, hãy cũng là để biểu thị con sống “Tràng Giang” này không chỉ dài. Âm “a” có tính gợi hình rất tốt làm cho người đọc hình dung trước mắt không chỉ về chiều dài bất tận, mà còn cả chiều ruộng thành thanh, mở ra một khung cảnh mênh mông, vô bờ vô bến. “Tràng Giang” đón mừng trí tưởng tượng của bạn đón bước vào không gian bao la, hun hút ấy, thoáng cảm nhận và thoáng buồn.

Câu thơ đầu tiên đã nói ngay đến cái sự buồn. “Sóng gợn những đợi sóng nhỏ bé dập dềnh, nhấp nhô trên mặt sông nào có thấp tháp gì, quá yếu ớt, quá mong manh trước sự vì đại mặt sông “Tràng Giang”. Những đợt sóng lớp lớp, trùng trùng điệp điệp như đập vào bến bờ lòng người những nỗi buồn điệp điệp, êm dịu, man mác như thế.

Trên mặt sông rộng, dài ấy một con thuyền nhỏ bé xuôi mái chèo. “Thuyền” vốn là biểu tượng của một cuộc đời lạc lõng, cô đơn, bất định, một cảnh tượng gieo vào lòng chúng ta những tâm trạng đến khó hiểu, yên tĩnh, xa vời đến đau đớn.

Từ xưa tới nay, thuyền và nước luôn là những vật thể không thể nào tách rời, xa cách. Con thuyền kia không những xuôi mái, buông xuôi, phó mặc cho dòng nước, dòng đời, mà nó còn chia rẽ dòng nước ra làm hai, không bao giờ gặp nhau “Thuyền về – nước lại” – sự đi ngược đường, ngược quy luật kia có phải là sự thật chăng? Hai biểu tượng vốn gắn liền nay lại chia lìa, xa cách. Một nỗi cô đơn, chia xa giữa sự vật thực thể hay nó chỉ xảy ra trong con mắt, trong trái tim của thi sĩ buồn. Sự sầu muộn trong tâm tưởng của thi sĩ đã theo dòng nước kia chảy về muôn ngả, muôn dặm đường trường, chảy về một cõi hư vô, bao la và bất định.

Nói cái buồn của Huy Cận hàm chứa cả cái nhìn mới lạ, mới thật là đúng! Trong thơ ca cổ xưa, đặc biệt là thơ Đường, thi liệu được sử dụng thường là những sự thể thanh cao “tùng – trúc, cúc – mai”, nhưng Huy Cận để “mọt cành củi khô” làm hướng nhìn của chính mình không phải đoạn cây, một nhánh gỗ mà là “củi” một mảnh rơi gầy, khô xác của thân cây. Thi liệu giúp ý thơ trở nên gần gũi hơn, dân dã hơn, truyền đạt được sâu sắc hơn. Giữa dòng nước mênh manh, một cành củi trôi dạt không biết đi đâu, về đâu, bao giờ mới là bến tấp. Gợi lên số phận người con xa quê, lạc lõng, cô đơn, buồn tủi nơi đất khách, sứ người. Đọc những câu đầu tiên của “Tràng Giang” chúng ta đã thật sự rợn ngợp bởi nỗi buồn chia lẻ, một nỗi buồn đượm nhớ nhung da giết.

Trong những câu thơ tiếp theo, cái “buồn” trong ý thơ được nhận lên rất nhiều lần. Giữa khoảng sông nước mênh mông, nổi lên vài cồn cát nhỏ. Những cồn cát này được miêu tả bởi các tính từ “lơ thơ”, gió “đìu hiu”. Một cảnh tượng hoang vắng, lạnh lẽo đến rùng mình.

Hòa trong nhịp điệu hơi thở của gió, tác giả nghe đâu đây có tiếng “chợ chiều”. Là tiếng “thật hay là tác giả nghe trong tâm tưởng của mình. Ta đã từng đọc “Chạy giặc” tiếng chợ vẫn là âm hưởng mộng lung nhưng gợi lên mọt nét buồn tàn phai, héo úa. Tiếng “chợ vãn” thực ra quá xa vời, quá hư ảo, làm sao biết nó có thực sự hay không? Điều đó càng khiến con người ta quằn quặn trong lòng.

Ở đây không chỉ thuyền buồn, cành củi buồn mà cả sóng gợn, sông nước, gió mây đều buồn. Tất cả, tất cả nư bị cuộc sống bỏ quên, chúng xa vời nhau, tách biệt với nhau, không hứa hẹn gì về hội tụ, gặp gỡ mà chỉ là chia tan, xa vời. Đó là một thế giới không liên hệ, mọi vật tì vẫn có, nhưng không vật nào ý tìm nhau, đến với nhau, cần nhau.

Chẳng lẽ chừng ấy không thể để lại một dấu ấn gì đó sao?

Hai câu thơ cuối của khổ hai đã lại một lần nữa tô đậm thêm cái cảm giác lạc lõng, bơ vơ giữa dòng đời xuôi ngược “Nắng xuống trời lên”, không chỉ đơn giản gợi ra khung cảnh nắng chiều, mà bản thân lại hướng lên xuống như không ăn nhập với nhau, không thể hòa quện. “Sông dài – trời rộng” càng tăng thêm cái vắng vẻ của bến sông đó.

Phân tích bài thơ Tràng Giang (Huy Cận) – Bài số 4

Huy Cận từng nói “Tràng giang là một bài thơ tình và tình gặp cảnh một bài thơ về tâm hồn. Nhìn dòng sông lớn gợn những lớp sóng tôi cảm thấy nỗi buồn của mình củng đang trải ra như những lớp sóng.” Và đó là tất câ lí do để ông viết lên bài Tràng giang.

Bài thơ được mở ra bằng những chi tiết thực mộng xen lẫn.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Tác giả đôi diện với con sông Hồng khi mặt nước chỉ gợn nhẹ – “sóng gợn” là rất nhỏ, chỉ lăn tăn đủ làm cho mặt sông rung nhẹ, dao động. Mặt sông không có những chấn động lớn mà lòng người “buồn điệp điệp” – là một nỗi buồn kéo dài. Từ “điệp điệp” nhấn lại hai lần càng kéo nỗi buồn thành dai dẳng, triền miên, nỗi buồn không dứt. Cảu thơ tạo sự trầm lắng trong lòng người đọc. Hình ảnh con thuyền xuất hiện trên dòng nước mà như vô tâm, vô tình, thuyền và nước vốn đâ gắn bó, gần gũi bao đời, vậy mà ở đâv thuyền – nước lại song song với nhau như thể chẳng bao giờ gặp nhau cả. Cũng đã có nhiều cách hiểu về hình ảnh “con thuyền xuôi mái nước song song”. Có người cho rằng khi thuyền trôi trên dòng sông thi nó sẽ đẩy nước trỏ lại nên tạo ra hai dòng nước song song ở mạn thuyền, đó là một hình ảnh tả thực. Có người lại cho rằng hình ảnh song song gây cảm giác chia lìa. Thuyền gợi sự nổi niềm của kiếp người trong xã hội cũ. Nỗi buồn của tác giả càng đậm sâu hơn trong những câu thơ tiếp theo.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến - Văn mẫu lớp 11

Thuyền về – nước sầu – sóng buồn… tất cả cảnh vật đều mang theo tâm trạng buồn của thi nhân. Nước thì chỉ có làm bầu bạn với thuyền, thuyền về thử hỏi nước làm sao không buồn được, ơ đây nỗi buồn đă nhân lên thành nỗi sáu, sầu cho sự xa cách, tan tác, chia lìa. “Thuyền về – nước lại” cả hai đi ngược chiều nhau, càng đi càng xa, càng cô đơn, lẻ loi, heo hút như chính tâm trạng của người đứng ngẩm. Nước “sầu trăm ngả” thì lòng người của sầu trăm mối. Cái sầu của nước, cái buồn của sóng, cái ra đi của con thuyền có lẽ cũng chưa phải là cực điểm của nỗi buồn. Chính cành củi khô trôi dạt trên dòng sông mới là hình ảnh cực tả nỗi côi cút trong tâm hồn Huy Cận.

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Trên dòng sông dài rộng, mênh mông, rợn ngợp chỉ lẻ loi một nhành củi nổi trội lạc lõng, bé nhỏ và tội nghiệp. Củi duy nhất chỉ có một cành – gợi sự đơn lẻ giữa vũ trụ bao la rộng lớn. Đã thế lại còn “khô”, củi khô tức một cành củi đã bị vắt kiệt hết cả sức sống, đó là một cành củi chết, vậy mà cành củi lại bị mất phương hướng “lạc” – biểu hiện sự trôi dạt vô định, chẳng biết sẽ đi đâu về đâu, không đích để hướng tới, nó bị lạc không chỉ một dòng mà “mấy dòng” — tan tác cả rồi. Tất cả những hình ảnh, những từ ngữ được dùng trong câu thơ đã lột tả được sự cô độc của nhành củi. Củi trôi giữa dòng nước mà khô mới lạ. Số phận của nhành củi là do nước quyết định. Nhành củi gợi lên thân phận lạc loài, vơ vất của một kiếp người trôi nổi. Với nghệ thuật đảo ngữ câu. thơ đã góp phần diễn tả được nỗi niềm của thi nhân trong một buổi chiều chỉ có mình đối diện với vũ trụ, sông nước bao la.

Khổ thơ đầu hay từng chữ một và dường như hình ảnh nào cũng mang dáng dấp của Tràng Giang, của linh hồn thi sĩ Huy Cận – một người luôn mang tâm trạng sầu tình, sầu đời vì thấy mình bế tắc trước cuộc đời.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống chiều lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu.

Cảnh vật trong buổi chiều vắng vẫn đìu hiu và buồn tẻ, không có gì sáng hơn lên. Nghệ thuật đảo ngữ làm cho mọi cảnh vật đều co rúm lại, đơn chiếc lẻ loi, thưa thớt. “Lơ thớ” là từ láy gợi hình tượng, xa xa chỉ điểm một vài cồn nhỏ làm cho cảnh đã hoang vắng rồi lại càng hoang vắng thêm. Gió cũng không thèm thổi mạnh mà chỉ “đìu hiu” gợi cảm giác hiu hiu đạm đạm, một nỗi buồn xa vắng. Ngọn gió của đất trời hắt vào lòng người cái buồn khó diễn đạt thành lời.

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Câu thơ đã có nhiều ý kiến tranh cãi. “Đâu” là một từ để hỏi, vậy Huy Cận dùng để hỏi cái gì? Có lẽ là hỏi về âm thanh của cuộc sông. Có người cho rằng trong một buổi chiều vắng lặng như thế nhưng Huy Cận vẫn nghe được từ rất xa cái âm thanh của cuộc sống con người vẳng lại, tức là nghe đâu đây cái tiếng làng xa trong một buổi chiều, chợ đã vãn.

Có người lại bảo nếu như theo mạch thơ từ đầu đến cuối thì câu thơ này phải là một câu hỏi “đâu rồi”, tức là đâu rồi cái âm vang của cuộc sông. Tiếng ồn ào thưa thớt của buổi chiều vãn chợ cũng đã không còn nữa, có nghĩa âm thanh của cuộc sông cũng đã bị cắt đứt không còn một môi liên kết nào nên nỗi cô đơn đã chuyển thành sự vô vọng. Mong mỏi nghe được một tiếng nói của cuộc sống cũng không được. Vậy có lẽ cách hiểu thứ hai này mang đầy đủ ý nghĩa biểu cảm sâu sắc hơn. Có như thế thì những câu thơ tiếp sau mới chứa đựng cái không gian rợn ngợp, đáng lo ngại. Một không gian ba chiều hiện rõ lên trong câu thơ.

Nắng xuống trời lên sâu chót vót.

Không phải là “cao” chót vót mà là “sâu”, không gian có cả chiều dài, chiều rộng, chiều sâu, con người bỗng lọt thỏm giữa bầu trời cao rộng ấy nên thấy mình càng bơ vơ, bé nhỏ. Trơ trụi hơn. “Sông dài trời rộng bến cô liêu” cảnh vật sững sờ, thế nhưng vẫn biết buồn. “Bến cô liêu” là bến vắng người lại qua, ta có cảm tưởng giữa đất trời và sông nước mênh mông ấy chỉ có một mình Huy Cận đứng đấy cho nỗi sầu dâng lên tột đỉnh.

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Câu thơ chia lìa tan tác, cánh bèo gợi sự bọt bèo của thân phận con người. “Bèo dạt hàng nối hàng” nhưng lại không có phương hướng, chưa biết sẽ cập lại ở bến bờ nào và liệu còn có bến đỗ cho những cánh bèo lạc loài trôi trên sông nước vô định hay không? Giữa mênh mông sông nước không lấy một bóng người qua lại làm cho cảnh vật thật buồn tẻ, cô quạnh. Từ “Không cầu” xuất hiện ở đây cũng có hai cách hiểu. “Cầu” đó là cái bắc qua sông để nối liền hai đầu xa cách, nối liền đôi bờ nhưng cũng chẳng có. “Không cầu” ở đây muôn nói đến mối quan hệ với cuộc sông bị cắt đứt hẳn. Niềm khát khao giao cảm với đời đã bị chặn đứng lại, tác giả cảm thấy bế tắc trước cuộc sống. “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”, cảnh vật buồn, mọi thứ cứ trải dài ra bên ngoài càng làm tăng thêm sự xao động trong lòng thi nhân. Đây là nỗi cô đơn tột cùng của một tâm hồn yêu đời, thiết tha với cuộc sông nhưng lại không giao hòa được với cuộc sông từ đó thể hiện thái dộ phủ nhận thực tại của tác giả.

Đối diện với dòng sông mênh mông, tác giả bỗng thấy nhớ quê nhà tha thiết.

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cảnh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Cảnh buồn song vẫn có được vẻ đẹp kì vĩ, cổ kính của thiên nhiên vạn vật. “Lớp lớp” có sức gợi lớn, tạo nên tầng tầng, lớp lớp của những áng mây đùn nhau vươn lên tạo thành dáng núi. Giữa không gian ấy xuất hiện cánh chim bé nhỏ, đơn côi, chim chiều chiều thường tìm về tổ ấm nên cũng nghiêng cánh vội vã, gợi ra cảm giầc tội nghiệp đáng thương. Nhìn sông nước “dạn dọn” lòng Huy Cận bỗng nhớ quê hương. Cái “dợn dợn” ở đây là của sóng hay của chính tâm hồn tác giả? Đứng giữa một buổi chiều buồn nhưng đẹp như vậy ai lại không nhớ quê nhà? Câu thơ cuối là một hình ảnh rất đẹp, đọng lại bao ý nghĩa tiềm ẩn. Trước đây Thôi Hiệu ở Trung Quốc cũng đã nói về nỗi lòng nhớ quê hương của mình trước một buổi chiều hoàng hôn rất hay.

Quê hương khuất hóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Huy Cận từng viết “Tôi thường nói vui rằng cảnh trên sông nước có khói làm cho Thôi Hiệu buồn, nhớ quê, còn tôi thì không có khói sóng cũng da diết nhớ quê hương”. Bài Tràng Giang đã kết hợp được cả thơ ca truyền thống, những nét cổ điển của thơ Đường, với những nét hiện đại. Những hình ảnh “con thuyền xuôi mái”, “củi một cành khô”, “bèo dạt về đâu hàng nối hàng” mang tính chân thực của đời thường, không ước lệ, và cũng có nhiếu hình ảnh mang vẻ đẹp tượng trưng. Tình yêu trong bài Tràng giang gợi lên và mở ra một tình yêu lớn lao hơn mỗi miền quẻ, mỗi cảnh vật, Tình yêu đó mang nỗi buồn sông núi, riỗi buồn về đất nước. Huy Cận nhìn cảnh trời chiều trong tâm trạng cô đơn và cảm thấy nhớ nhà, cảm thấy một mối tình tha thiết với quê hương. Tình yêu nhà, yêu quê hương chính là tình yêu nước của tác giả. Nhà thơ buồn vì nước nhà đang nằm trong cảnh lầm than, đó là cái buồn đẹp.

Tràng giang là một bài thơ mang cảm hứng vũ trụ. Bài thơ bộc lộ nỗi buồn của tác giả, của con người được mệnh danh là kẻ chuyên đi nhặt nhạnh những nỗi sầu của thế gian. Nhà thơ cảm thấy cô đơn, trơ trọi giữa đất trời, giữa cuộc đời, tác giả bế tắc trước cuộc dừi, và đó cũng chính là bi kịch chung cùa những nhà thơ lãng mạn trước cách mạng. Đồng thời thế hiện tình yốu quê hương đất nước, yêu cuộc sông đẽn dạt dào cháy bông cúa tác giả.

Bài thơ được Huy Cận sử dụng nhiều hình ảnh cổ điển mang âm hưởng thơ Đường nhưng vẫn toát lên được cái đậm đà bản sắc dân tộc của hồn thơ Việt Nam.

Thanh Bình tổng hợp

Thống kê tìm kiếm

  • Phân tích tràng giang

Check Also

Bình giảng khổ đầu bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm

Bình giảng khổ đầu bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm

Bình giảng khổ đầu bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm Bài làm Thâm …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *