Home / Ôn thi môn Ngữ văn / Ngữ văn lớp 11 / Phân tích bài thơ Vội vàng (Xuân Diệu) – Văn mẫu lớp 11

Phân tích bài thơ Vội vàng (Xuân Diệu) – Văn mẫu lớp 11

Phân tích bài thơ Vội vàng (Xuân Diệu) – Bài số 1

Xuân Diệu là nhà thơ khát khao giao cảm với đời đến cuống quýt say mê cuồng nhiệt. Bài thơ được rút ra từ tập thơ thơ (1938) tập trung cao nhất khát vọng sống mãnh liệt ấy. Ở bài thơ thi sĩ đặt khát vọng giao cảm với tuổi trẻ và xuân tình. Qua đó bộc lộ một cảm xúc triết học, một quan niệm nhân sinh mới mẻ. Đúng như lời nhận xét của Hoài Thanh: “ Xuân Diệu là nhà thơ say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời sống vội vàng cuống quýt muốn tận hưởng tất cả những gì của nhan sắc trời ban, khi vui cũng như khi buồn người đều nồng nàn tha thiết”.

Mở đầu bài thơ là bốn câu thơ ngũ ngôn chắc nịnh như một lời khẳng định:

“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi”

Xuân Diệu vốn là người phóng túng từng ước mình như phấn thông vàng làm đẹp không gian, để gieo rắc tình yêu đi khắp nơi mà ở đây chàng thi sĩ lại đang đắn đo dè xẻn từng chút nắng chút gió, tằn tiện hương sắc trời ban tặng. Phải chăng nhà thơ nhận ra cuộc sống là tuyệt diệu nhưng mỏng manh qua nên cố níu giữ bằng mọi cách?. “nắng” và “gió” vốn là những hiện tượng của tự nhiên nó có quy luật riêng. Vậy mà ở đây thi si lại đòi đoạt quyền tạo hóa để tắt nắng buộc gió lại để giữ lại những hương sắc trời ban. Các động từ “tắt nắng” “ buộc gió” thể hiện khát khao níu giữ thiên nhiên níu giữ cuộc đời của Xuân Diệu. gió đâu có thể buộc được, nắng làm sao có thể tắt. Dẫu biết rằng không thể nào đoạt được quyền tạo hóa nhưng bằng tình yêu thiên nhiên cuộc đời nhà thơ vẫn “tham lam” thể hiện nguyện vọng của mình. Điệp từ “tôi muốn” càng thể hiện rõ ước muốn của nhà thơ. Phải chăng một đời người với ông là chưa đủ để tận hưởng hết những điều tuyệt vời của cuộc sống ấy.

Đến những câu thơ tiếp theo nhà thơ vẽ lên một bức tranh đầy màu sắc của thiên nhiên đất trời. Có thể nói cuộc đời trước mắt nhà thơ giống như một thiên đường trên mặt đất:

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

Với cặp mắt xanh non biếc rờn Xuân Diệu đã nhìn cuộc sống thật nên thơ nên nhạc, đáng yêu, đáng sống, đáng đắm say. Chất nhạc chất họa trong thơ ông tấu lên một bữa tiệc trần gian một thiên đường trên mặt đất với biết bao nhiêu là cảnh vật. bao nhiêu là màu sắc hấp dẫn lôi cuốn. đó là một khu vườn xuân ngập tràn hương sắc của đồng nội xanh rì, của lá tơ phơ phất. Không những thế bức tranh khu vườn ấy còn có âm thanh của tiếng chim yến anh hót ngọt ngào, nó tượng trưng cho tình yêu đôi lứa, âm thanh của niềm vui mỗi buổi sáng sớm đến. Thêm nữa bức tranh ấy còn có cả tình yêu đôi lứa khi hiện lên trên hình ảnh của ong bướm với tuần tháng mật. Đó là niềm hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ trong tuần trăng mật đầy yêu thương. Điệp cấu trúc này đây tác giả như muốn mời gọi, bày ra, phô ra những gì đẹp nhất trên cõi hồng trần này. Đặc biệt là hình ảnh tháng giêng ngon như một cặp môi gần cho thấy sự đẹp tuyệt vời lôi cuốn ấy. Tháng giêng trong mắt nhà thơ giống như một bờ môi căng mộng của người con gái. Ta thấy quan niệm về cái đẹp của Xuân Diệu rất tiên tiến. nếu như ngày trước thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người thì giờ đây con người trở thành thước đo vẻ đẹp cho thiên nhiên. Có thể nói đây là một câu thơ đắt giá của nhà thơ Xuân Diệu.

Qua đây ta thấy một thiên đường được nhà thơ vẽ lên trước mắt chúng ta thật hấp dẫn lôi cuốn đến kì diệu. Không những thế ẩn sau những câu thơ ấy ta thấy được tình yêu thiên nhiên, yêu đời tha thiết da diết của thi sĩ.

Yêu thiên nhiên như thế nên Xuân Diệu không thể dấu được cảm xúc của mình. Đó là một xúc vui sướng nhưng lại vội vàng một nửa, hạnh phúc ấy làm cho tác giả phải cố gắng sống nhanh nhất có thể để tận hưởng hết:

“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa
Tôi không chờ nắng hạ mới hồi xuân”

Dấu chấm giữa dòng như sự ngăn giữa hai thái cực của cảm xúc. Tác giả hạnh phúc nhưng cũng vội vàng để nhanh chóng tận hưởng cho hết những gì tươi đẹp nhất của cuộc sống này. Nhà thơ không chờ nắng hạ mới hồi xuân:

“Xuân của đất trời nay mới đến
Trong tôi xuân đã đến lâu rồi”

Và trước sự gấp gáp ấy nhà thơ nhận ra được mọt chân lí, một quy luật bất biến mà chúng ta không thể nào làm khác được:

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Và tôi xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài tuổi trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”

Theo quan niệm truyền thống thì thời gian luân chuyển tuần hoàn bốn mùa xuân, hạ thu đông, lấy sinh mệnh vũ tru làm thước đo thời gian. Chính vì thế nên con người sống an nhiên tự tại. Còn theo Xuân Diệu thì thời gian là một tuyên tính một đi không trở lại nữa. Nhà thơ lấy tuổi trẻ một khoảng thời gian ngắn ngủi nhất trong đời làm thước đo thời gian. Chính vì thế mà nhà thơ sống vôi vàng vì tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại.  những hình ảnh thơ đối lập kết hợp với những từ nhằm khẳng định những sự thật hai năm rõ mười “nghĩa là” và giọng điệu thơ như tranh luận hùng biện ta thấy rõ được tâm trạng của nhà thơ. Đó là một tâm trạng hoài nghi âu lo, tiếc nuối vì nhìn đâu cũng thấy sự chia phôi.

Đoạn thơ cuối tác giả thể hiện điệu sống vội vàng và khát khao cuồng nhiệt của nhà thơ:

“Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn diết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước và cây và cỏ rạng
 Cho chếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”

Đại từ nhân xưng ta được nhắc đến nhiều lần thể hiện cái tôi cá nhân bản ngã của nhà thơ. Một tình cảm chủ quan được phô ra trước mắt mọi người. Nào là “mây đưa” “gió lượn”, nào là “sự sống mơn mởn”, rồi lại “ cánh bướm” tình yêu, nụ hôn. Tất cả những thứ ấy được gắn liền với những động từ mạnh như “ôm”, “diết” “say” thậm chí là “cắn” kết hợp với những tính từ chỉ mức đọ cao nhất như “ chếnh choáng”, “đã đầy” rồi lại no nê để thể hiện một sự cuồng nhiệt với cuộc đời của nhà thơ. Những cảnh thiên nhiên ấy làm cho nhà thơ yêu mến đến mức muốn cắn.

Xem thêm:  Phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao - Văn mẫu lớp 11

Qua đây ta thấy vội vàng giống như một lời tuyên ngôn về lẽ sống của Xuân Diệu mà mỗi câu mỗi chữ đều mang hơi thở nồng nàn, đắm say, cuống quýt của nhà  thơ. Bài thơ là bức thông điệp thẩm mĩ mà thi nhân muốn gửi tới những tri âm tri kỉ ở mọi phương trời, mọi thời khắc, mọi thế hệ: hãy yêu thương sự sống hãy biết hưởng thụ hạnh phúc trần thế, quý trọng tuổi thanh xuân, sống cao độ từng phút từng giây cuộc đời.

Phân tích bài thơ Vội vàng (Xuân Diệu) – Bài số 2

Nhà thơ Xuân Diệu là tác giả lớn trong nền văn học hiện đại của dân tộc Việt Nam. Các tác phẩm thơ của Ông là những khúc hát nồng nan, tha thiết về tình đời,tình người được tác giả thể hiện qua những nét cách tân nghệ thuật mới lạ. Cuộc sống trong các bài thơ của Ông thật phong phú và tuyệt vời. Với cảm hứng về tình yêu và tuổi thanh xuân. Lúc vui. Lúc buồn Tác giả xuân diệu đã diễn tả đầy đủ cảm xúc của mình trong bài thơ “ Vội Vàng”.

Với bốn câu thơ đầu:

“Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi”.

Tác giả Xuân Diệu đã thể thiện và khảng định dứt khoát mọi cảnh đẹp quanh ta là thế giới thần tiên. Tối muốn “ tắt nắng” để cho màu không nhạt phai, muốn “ buộc gió” để hương hoa còn lưu lại mãi, cũng có nghĩa thi sĩ muốn lưu giữ lại tuổi trẻ, tuổi thanh xuân mãi mãi. Sử dụng ngôi tôi đầy kiêu hãnh khát vọng mãnh liệt lạ lùng cho chúng ta thấy con người muốn vươn tới tâm của tạo hóa.

Mùa xuân mang lại cho chúng ta cũng như vạn vận sự tươi mới, nảy nở, trẻ trung. Những tháng mật đầu tiên, trên nền tươi xanh, của đồng nội bao la trở lên tươi thắm, những cảnh vật mùa xuân với những lá xanh, gió xuân không gian của vạn vật say đắm trong khúc tình ca. Một buổi sáng mùa xuân bừng mở cặp mắt thiên thần tươi sáng hấp dẫn “ Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Với tác giả Ông luôn nghĩ cuộc sống với bao điều tốt lành, vui sướng “ Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa”.

Theo Xuân Diệu, cứ mỗi ngày xuân mới đến là bắt đầu một đoạn đời vui với bao nhiêu tốt lành sung sướng:

“Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa”

Với cảnh thiên đường ấy tác giả muốn nói với chúng ta, tại sao chúng ta phải tìm kiếm ở chối xa xăm nơi có bồng lai tiên cảnh mà lại quên đi cuộc sống quanh ta ngay lúc này cũng vô vàn điều yêu thương và tươi đẹp. Chúng ta hãy yêu mến, gắn bó với hết mình với cuộc sống thần tiên ấy. Xuân Diệu đã láy nhiều lần hai từ “ này đây: để nhấn mạnh và trần trồ trước cái đẹp dại dào, không kể xiết của mùa xuân; qua đó chúng ta thấy được thế giới tươi đẹp, vườn xuân mơn mởn quanh ta. Thực chất sự vật sự việc đó luôn gần gữi quanh ta tuy vậy tâm hồn ta còn chưa quan tâm, chưa rung động thì có cũng nhưu không. Thi sĩ, nhà thơ không tạo ra thế giới mới, mà họ dùng lời ca, lời thơ của mình để nói lên tâm tư, hình ảnh tươi đẹp tới mọi người xung quanh để mọi người cùng quan tâm, tận hưởng mùa xuân. Sử dụng hình tương nghệ thuật, tác giả đã hình tượng hóa nghệ thuật phong phú, Ở chốn thiên đường, cảnh đẹp, đáng yêu nhất của con người chính là tuổi trẻ và tình yêu. Thơ xưa các tác giả lấy vẻ đẹp thiên nhiên từ chuẩn mực của con người ( khuôn trăng, nét ngài…) Tuy nhiên Xuân Diệu đưa ra một tiêu chuẩn hoàn toàn khác, trái ngược lại  những quan điểm truyền thống. Theo Ông con người hồng hoàn mơi mởn giữa tuổi yêu đương là đẹp nhất đó mới là chuẩn mực cho một vẻ đẹp trên thế gian. Đây được cọi là ý nghĩa nhân bản độc đáo nhất trong tác phẩm của Xuân Diệu.Điều này giúp tác giả tạo nên những hình ảnh mới mẻ, tràn  đầy của tuổi trẻ và tình yêu.

Trong bài thơi “ Vội Vàng” có hai hình ảnh đặc sắc được giác giả nhắc tới đó là hình ảnh nàng công chúa tỉnh giấc bình minh:” Và này đây ánh sáng chớp hàng mi” và hình ảnh “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Hình ảnh táo bạo, vẻ đẹp rất con người rất trần thế, nhưng thật tuyệt mĩ chỉ có tạo hóa mới có thể tạo nên được.

Với tác phẩm Vội Vàng, tác giả Xuân Diệu đã lí giả theo một cách rất riêng.

Vì sao phải vội vàng? Xuân Diệu đã biện luận, đã lí sự theo một cách rất riêng của nhà thơ. Tác giả Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong phong trào thơ mới; cho nên ý thức cá nhân rất cao. Nó trỗi dậy sừng sững:

“Ta là Một, là Riêng, là thứ Nhất

Không có chi bè bạn nổi cùng ta”

và chói lọi:

“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối

Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”

Cho nên, ở bài “Vội Vàng” nổi bật lên triết lí sống mới mẻ và tích cực: sống “Vội Vàng”.

Thi sĩ ý thức rất rõ về sự trôi chảy của thời gian, cái thời gian một đi không bao giờ trở lại:

“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua"

Phân tích bài thơ Vội vàng (Xuân Diệu) – Bài số 3

  Trước cách mạng tháng tám, hồn thơ của Xuân Diệu hồn nhiên yêu đời, yêu cuộc sống, say mê với cái đẹp, nhạy cảm với sự trôi chảy của thời gian. Nhưng càng yêu say, Xuân Diệu càng sợ cuộc sống sợ tình yêu và vẻ đẹp sẽ bỏ mình và bay đi mất. Chính vì thế mà ta thường gặp trong thơ ông những trạng thái hốt hoảng, lo âu, yêu – sống một cách tham lam, cuống quýt, vồ vập. "Vội vàng" là bài thơ tiêu biểu cho trạng thái cảm xúc ấy của Xuân Diệu.

    Mở đầu bài thơ, Xuân Diệu dùng những từ ngữ có tính chất oai nghiêm, mệnh lệnh.

"Tôi muốn tắt nắng đi"

"Tôi muốn buộc gió lại"

    Những từ ngữ ấy thể hiện một cái tôi cá nhân đầy khao khát, khao khát đạt quyền của tạo hóa, cưỡng lại quy luật của tự nhiên, những vận động của đất trời. Bởi ông hiểu rằng, sắc thắm nào rồi cũng nhạt, hương nồng nào rồi cũng phai. Xuân Diệu không muốn những vẻ đẹp tự nhiên của đất trời mất đi. Ông muốn lưu giữ nó bên mình để được thưởng thức một cách trọn vẹn, mãi mãi.

    Sau tâm trạng ấy là tiếng reo vui của nhà thơ. Trong cái nhìn của Xuân Diệu sự sống quen thuộc quanh ta bỗng trở nên vô cùng hấp dẫn.

Xem thêm:  Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Văn mẫu lớp 11

"Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi

Mỗi sáng sớm thần vui hằng gõ cửa"

    Cảnh thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu hiện ra như một khu vườn ngập tràn hương sắc thần tiên, như là ở một cõi nào xa lạ, chứ không phải là của cõi trời trần tục này. Cũng vẫn là thiên nhiên non nước ngàn năm ấy thôi nhưng Xuân Diệu phát hiện ra bao vẻ đẹp bất ngờ, đáng yêu đáng say đắm. Xuân Diệu đã nhìn đời bằng cặp mắt "xanh non", "biếc rờn" vui say, rộn ràng tận hưởng những vẻ đẹp diệu kì mà trời đất đã ban cho mỗi cuộc đời, mỗi con người. Những từ ngữ "này đây" san sát nhau đã phô diễn sự phong phú dường như bất tận của thiên nhiên, đã bày ra một khu vườn địa đàng ngay giữa chốn trần gian – một "thiên đàng trần thế".

    Người ta nói tháng giêng đẹp, tháng giêng vui, còn Xuân Diệu lại thấy "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần". Văn học trung đại lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người. Còn Xuân Diệu thì lại lấy vẻ đẹp của con người ở giữa tuổi xuân và tình yêu làm chuẩn mực cho cái đẹp. Thơ xưa ngại nói đến những biểu tượng của các vị giác còn Xuân Diệu đã không ngần ngại trộn lẫn và huy động tất cả mọi giác quan của mình để thưởng thức được trọn vẹn những vẻ đẹp của thiên nhiên.

    Đang vui say, Xuân Diệu bỗng chốc lại buồn ngay vì nhận ra một sự thật nghiệt ngã.

"Xuân đang đến nghĩa là xuân đang qua

Xuân còn non nghĩa là xuân đã già"

    Trước Xuân Diệu, chưa bao giờ có những câu thơ định danh như vậy. Điệp ngữ "nghĩa là" vang lên khô khốc diễn tả một bi kịch trong tâm hồn con người không cách gì nếu giữ được thời gian đang trôi qua. Nỗi nối tiếc vì ngày vui ngắn ngủi qua mau đó, với Xuân Diệu là đau đớn đến tột cùng. Nhà thơ cho rằng mình sẽ chết đi cùng với mùa xuân khi mà vẻ đẹp của cuộc đời không còn nữa.

"Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất"

    Chính cái ý thức thời gian xuôi chảy một dòng, một đi không trở lại, thời gian là tuyến tính chứ không phải tuần hoàn, định lượng chứ không phải định tính đã chi phối cái nhìn cuộc đời của Xuân Diệu. Do chưa có cái nhìn biện chứng về thời gian nên Xuân Diệu thấy thời gian là một dòng suy biến và tàn phai, ở cuối con đường là sự già nua và chết chóc. Thời gian lấy đi của con người tuổi trẻ và tình yêu mang trả con người tuổi già và cái chết. Ý nghĩ đó là cho Xuân Diệu cảm nhận đất trời như cũng đối kháng với con người.

"Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật

Không cho dài thời trẻ của nhân gian"

    Đời người thì hữu hạn mà thời gian thì lại vô cùng. Tâm hồn con người ta cứ mãi trẻ trung, cứ đầy khao khát nhưng thể xác thì phải già nua theo ngày tháng, không thể nào cứ qua đi rồi lại vòng trở lại như mùa xuân.

"Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi".

    Xuân Diệu buồn biết bao nhiêu khi nhận ra cái bi kịch khủng khiếp ấy của kiếp người. Chính vì sợ ngày vui ngắn ngủi qua mau, sợ vẻ đẹp sẽ tàn phai nên toàn bộ thiên nhiên tươi sáng ở trên kia đến đây cũng mất dần tính tự nhiên, vô tư của nó. Xuân Diệu dường như cảm nhận được mùi vị của tháng năm, nhưng đó là mùa vị đem đến cho nhà thơ sự nuối tiếc xót xa "vị chia phôi". Những hợp âm rì rào nghe như lời than thầm vang lên khắp sông núi. Cả đến cơn gió xinh cũng dỗi hờn, chim chóc cũng "đứt tiếng reo thi" vì sợ "độ tàn phai sắp sửa". Kết thúc tâm trạng ấy là tiếng thở dài ngao ngán.

"Chẳng bao giờ,  ôi! chẳng bao giờ nữa"

    Vì nhận thấy sự nghiệt ngã của thời gian nên nhà thơ lại dậy lên một nỗi khát khao sống hết mình, trọn vẹn. Chính trái tim trẻ tuổi, yêu đời, tràn đầy nhiệt huyết đã không cho phép nhà thơ buông xuôi, phó mặc. Nhà thơ như giục giã chính mình "Mau đi thôi! mùa chưa ngã chiều hôm".

    Nhà thơ muốn tận hưởng cuộc sống, tận hưởng những vẻ đẹp của đất trời khi nó còn đang trong độ xanh tươi mơn mởn.

"Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn chiều"

    Điệp ngữ "ta muốn" một lần nữa được láy lại dồn dập để bày tỏ một khát khao lớn lao muốn ôm cả sự sống vào lòng.

"Cho chếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi"

    Đấy là một tình yêu nồng nhiệt tới tột độ đối với cuộc sống. Tình yêu ấy đã xua tan đi cái ủ rũ u sầu, làm sống lại cái sinh khí vốn có của một chàng trai trẻ. Kết thúc bài thơ là hình ảnh chàng trai trẻ Xuân Diệu đang hét vang lên niềm đắm đuối, say mê của mình trước thiên nhiên tươi đẹp.

"Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi".

    "Vội vàng" thể hiện niềm say mê yêu đời, yêu cuộc sống, một nỗi buồn bã, đơn côi khi nhận ra quy luật nghiệt ngã của đất trời. Tất cả rồi sẽ tàn phai nhưng vượt lên trên tất cả, nỗi khát khao yêu đời vẫn tràn đầy, mãnh liệt. Nó kích thích bạn đọc trẻ tuổi niềm đam mê cuộc sống.

Phân tích bài thơ Vội vàng (Xuân Diệu) – Bài số 4

Mỗi lần đọc những dòng thơ trên, nhạc điệu,vần điệu "Vội vàng" cứ ngân vang dào dạt mãi trong lòng ta, tình yêu đời, yêu sống như tát mãi không bao giờ vơi cạn… Cảm thức về thời gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ… như những lớp sóng vỗ vào tâm hồn ta. "Vội vàng" là bài thơ độc đáo nhất, "mới nhất" của thi sĩ Xuân Diệu in trong tập "Thơ Thơ" (1933-1938) – đóa hoa đầu mùa đầy hương sắc làm rạng danh môt tài thơ thế kỉ.

Bài thơ "Vội vàng" nói lên nhịp điệu sống, khát vọng sống của tuổi trẻ rất đẹp, rất đáng yêu. Một đời người chỉ có một lần tuổi trẻ. Phải biết trân trọng, quý trọng và sống hết mình với tuổi trẻ, với mùa xuân và với thời gian.

Trong "Tiểu dẫn" về bài thơ "Vội vàng" này (Văn 11) Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh viết:

"Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Nhưng đằng sau những tình cảm ấy, có một quan niệm nhân sinh mới chưa thấy trong thơ ca truyền thống".

Thiên nhiên rất đẹp đầy hương sắc của hoa trên "đồng nội xanh rì", của lá "cành tơ phơ phất". "Tuần tháng mật" của ong bướm. "Khúc tình si" của yến anh. "Và này đây ánh sáng chớp hàng mi". Chữ "này đây" được 5 lần nhắc lại diễn tả sự sống ngồn ngộn phơi bày, thiên nhiên hữu tình xinh đẹp thật đáng yêu. Vì lẽ đó nên phải vội vàng "tắt nắng đi" và "buộc gió lại". Trong cái phi lí có sự đáng yêu của một tâm hồn lãng mạn.

Xem thêm:  Phân tích vẻ đẹp tính cách và tâm hồn nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

Tuổi trẻ rất đẹp, rất đáng yêu. Bình minh là khoảnh khắc tươi đẹp nhất của một ngày, đó là lúc "thần vui hằng gõ cửa". Tháng giêng là tháng khởi đầu của mùa xuân, "ngon như cặp môi gần". Một chữ "ngon" chuyển đổi cảm giác thần tình, một cách so sánh vừa mới lạ vừa táo bạo. Chiếc môi ấy chắc là của giai nhân, của trinh nữ. Đây là câu thơ hay nhất, mới nhất cho thấy màu sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu.

Chắc là Xuân Diệu viết bài thơ này trước năm 1938, lúc ông trên dưới 20 tuổi – cái tuổi thanh niên bừng sáng. Nhưng thi sĩ đã "vội vàng một nửa", một cách nói rất thơ – chẳng cần đến tuổi trung niên (nắng hạ) mới luyến tiếc tuổi hoa niên. Dấu chấm giữa dòng thơ, rất mới, thơ cổ không hề có. Như một tuyên ngôn "vội vàng":

"Tháng giêng ngon như cặp môi gần

Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân".

Vội vàng vì thiên nhiên quá đẹp, vì cuộc sống quá yêu, vì tuổi trẻ quá thơ mộng. Đang tuổi hoa niên mà đã "vội vàng một nửa".. cảm thức của thi sĩ về thời gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ rất hồn nhiên, mới mẻ.

Quan niệm về thời gian có nhiều cách nói. Thời gian là vàng ngọc. Bóng ngả lưng ta. Thời gian vun vút thoi đưa, như bóng câu (tuấn mã) vút qua cửa sổ, như nước chảy qua cầu. Thời gian một đi không trở lại. Xuân Diệu cũng có một cách nói rất riêng: tương phản đối lập để chỉ ra cái "lượng trời" cho một đời người chỉ có một thời xuân xanh mà tuổi trẻ một đi qua không bao giờ trở lại:

"Xuân đang tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật

Không cho dài thời trẻ của nhân gian

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại…".

Giọng thơ sôi nổi như nước tự mạch nguồn tuôn ra. Một hệ thống tương phản đối lập: tới – qua, non – già, rộng – chật, tuần hoàn – bất phục hoàn, vô hạn – hữu hạn – để khẳng định một chân lí – triết lí: tuổi xuân một đi không trở lại, phải quý tuổi xuân.

Cách nhìn nhận của thi nhân về thời gian cũng rất tinh tế độc đáo, nhạy cảm. Trong hiện tại đã bắt đầu có quá khứ và đã hé lộ mầm tương lai, cái đang có lại đang mất dần đi…

Và mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật hình như mang theo nỗi buồn "chia phôi", hoặc "tiễn biệt", nên phải "hờn" vì xa cách, phải "sợ" vì "độ phai tàn sắp sửa". Cảm xúc lãng mạn dào dạt trong cái vị đời. Nói cảnh vật thiên nhiên mà là để nói về con người, nói về nhịp sống khẩn trương "vội vàng" của tạo vật. Với Xuân Diệu hầu như cuộc sống nơi "vườn trần" đều ít nhiều mang "bi kịch" về thời gian:

"Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi

 Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt".

Cũng là "gió", là "chim"… nhưng gió khẽ "thì thào" vì "hờn", còn "chim" thì bỗng ngừng hót, ngừng reo vì "sợ"! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật cái nghịch lí giữa mùa xuân – tuổi trẻ và thời gian:

"Con gió xinh thì thào trong lá biếc

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi

Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?"

Thi sĩ bỗng thốt lên lời than. Tiếc nuối, lo lắng và chợt tỉnh vì "mùa chưa ngả chiều hôm", nghĩa là vẫn còn trẻ trung, chưa già. Lên đường! Phải vội vàng, phải hối hả. Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng:

"Chẳng bao giờ / ôi / chẳng bao giờ nữa…

Mau đi thôi / mùa chưa ngả chiều hôm".

Xưa kia, Nguyễn Trãi viết trong chùm "Thơ tiếc cảnh":

– "Xuân xanh chưa dễ hai phen lại

Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên".

(Bài số 3)

– "Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm".

(Bài số 7)

Những vần thơ của Nguyễn Trãi giúp ta cảm nhận sắc điệu trữ tình trong "Vội vàng" về màu thơi gian, về sắc thời gian, về tuổi trẻ. Thật yêu đời, thật ham sống.

Mở đầu bài thơ là cái tôi hăm hở "tôi muốn tắt nắng đi". Kết thúc bài thơ là "ta", là mọi tuổi trẻ. Một sự hòa nhập và đồng điệu trong một đời người, trong dòng chảy thời gian: sống mãnh liệt, sống hết mình. Sống nồng nàn say mê. Nghệ thuật trùng điệp trong diễn tả gợi lên cái ham hố, yêu đời. Ngôn từ đậm màu sắc cảm giác, xúc giác, rạo rực: "Ta muốn ôm", "Ta muốn riết… Ta muốn say… Ta muốn thâu…":

"Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong mỗi cái hôn nhiều

Và non nước, và cây và cỏ rạng".

Sống cũng là để yêu, yêu hết mình. Thơ hay vì màu sắc lãng mạn. Vì giọng thơ sôi nổi. Nghệ thuật "vắt dòng" với ba từ "và" đồng hiện trong một dòng thơ làm nổi bật cảm xúc. Say mê vồ vập cảnh đẹp, tình đẹp nơi vườn trần. Tất cả mùi thơm, ánh sáng, thanh sắc, xuân hồng… đều là nỗi niềm khao khát của thi nhân:

"Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào người!".

Sống vội vàng không có nghĩa là sống gấp, sống ích kỉ trong hưởng thụ. "Vội vàng" thể hiện một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Biết quý trọng thời gian, biết quý trọng tuổi trẻ, biết sống cũng là để yêu; tình yêu lứa đôi, tình yêu tạo vật. Tình cảm ấy đã thể hiện một quan niệm nhân sinh mới mẻ, cấp tiến. Bảy thập kỉ sau bài thơ "Vội vàng" ra đời, nhiều câu thơ của Xuân Diệu vẫn còn làm cho không ít người ngỡ ngàng! Xuân Diệu đã sống "Vội vàng" như vậy. Với hơn 50 tác phẩm, hơn 400 bài thơ tình, ông đã góp phần làm giàu đẹp cho nền thi ca Việt Nam hiện đại.

Bài thơ "Vội vàng" cho thấy một cảm quan nghệ thuật rất đẹp, rất nhân văn, một giọng thơ sôi nổi, dâng trào và lôi cuốn, hấp dẫn. Có chất xúc giác trong thơ. Có cách dùng từ rất bạo, cách cấu trúc câu thơ, đoạn thơ rất tài hoa. "Vội vàng" tiêu biểu nhất cho "Thơ mới", thơ lãng mạn 1932-1941.

Nhà thơ Xuân Diệu đã đi vào thế giới vĩnh hằng những tao nhân mặc khách, nhưng ta vẫn cảm thấy ông đang hiện diện giữa cuộc đời và hát ca:

– "Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!"

– "Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ!

   Em, em ơi! Tình non sắp già rồi…"

Thanh Bình tổng hợp

Thống kê tìm kiếm

  • phân tích bài thơ Vội vàng
  • phân tích vội vàng

Check Also

Bình giảng khổ đầu bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm

Bình giảng khổ đầu bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm

Bình giảng khổ đầu bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm Bài làm Thâm …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *