Home / Ôn thi môn Ngữ văn / Ngữ văn lớp 11 / Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù

Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù

Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù – Bài số 1

Nhà văn Pauxtopki từng khẳng định: “Nhà văn là người dẫn đường đến xứ xở của cái đẹp. Bước vào thế giới văn chương nghệ thuật là bước vào thế giới của cái đẹp”. Tuy nhiên mỗi nhà văn lại có một lí tưởng riêng. Nếu Thạch Lam đưa người đọc đến với thế giới cái đẹp dịu dàng, êm đềm mà u buồn, man mác thì Nguyễn Tuân – người nghệ sĩ tận hiến suốt đời cho cái đẹp lại dẫn ta đến thế giới thanh cao, sang trọng, lịch lãm mà cổ kính. Trong thế giới nghệ thuật độc đáo ấy của Nguyễn Tuân nổi bật lên hình tường Huấn Cao – nhân vật chính của “Chữ người tử tù”, một nét son chói lọi trong văn nghiệp của Nguyễn Tuân.

Là một người nghệ sĩ coi cái đẹp là một tôn giáo, giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, trước Cách mạng, bất mãn xã hội Tây tàu nhặng xị, Nguyễn Tuân trở về quá khứ kiếm tìm, nâng niu nhữnng vẻ đẹp còn vương xót lại. Trong hành trình đi tìm kiếm cái đẹp “Vang bóng một thời”, Nguyễn Tuân chợt phát hiện ra không gì đẹp bằng những con người tài hoa tài tử. Nổi bật trong lớp người tài hoa ấy là danh sĩ Cao Bá Quát, một nhà Nho uyên bác, một nhà thơ lớn của dân tộc, một nhà thư Pháp kiệt xuất. Dựa trên nguyên mẫu về danh sĩ Cao Bá Quát, Nguyễn Tuân đã sáng tạo nên hình tượng Huấn Cao – một nhân vật đẹp và sang nhất trong cuộc đời Nguyễn Tuân. Không chỉ là người nghệ sĩ tài hoa, tài tử, Huấn Cao còn là một đấng anh hùng. Ở Huấn Cao có sự kết hợp tuyệt vời giữa vẻ đẹp của tâm hồn nghệ sĩ và khí phách của trang anh hùng hào kiệt.

Nghệ thuật thư pháp là một bộ môn nghệ thuật cổ xưa. Một nghệ sĩ thư pháp đòi hỏi một tay bút tài hoa điêu luyện, với những nét chữ rồng bay phượng múa, một học vấn uyên thâm, một cốt cách thanh cao. Với những đòi hỏi khắt khe như thế, thật ít nghệ sĩ dám theo đuổi bộ môn nghệ thuật thư pháp cao siêu. Thế mà Huấn Cao dám dấn thâm và tận hiến đời mình cho nghệ thuật thư pháp và trở thành người nghệ sĩ tài hoa tột bậc. Huấn Cao có tài viết chữ nhanh, đẹp, vuông. Hơn thế nữa, mỗi con chứa đựng cả hoài bão khát vọng của người nghệ sĩ. Danh tiếng của Huấn Cao lan truyền đến chốn ngục tù khiến cho những kẻ suốt đời tưởng chỉ biết đến đòn roi đánh đập, hành hạ, tra tấn cũng phải ngưỡng mộ. Đặc biệt đối với quản ngục. Ngay từ nghi đọc vỡ sách thánh hiền, ngục quan đã ấp ủ được treo ở nhà riêng đôi câu đối do tay Huấn Cao viết. Vì ngưỡng mộ tài năng, sùng kính nhân cách của ông Huấn, quản ngụ đã có lối ứng xủa lạ lùng chưa từng thấy đối với kẻ từ tù. Không chỉ tỏ thái độ kiêng nể kính trọng, ngục quan còn sẵn sàng hi sinh tất cả những gì vốn được coi là quý báu. Có được chữ của ông Huấn, quản ngụ vô cùng hạnh phúc, cảm động cung kính vái lạy người tử tù trong dòng nước mắt ngọt ngào “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Vẫn biết những tác phẩm nghệ thuật chân chính luôn có khả năng thanh lọc tâm hồn, cảm hóa con người nhưng thực sự hiếm có tác phẩm nào có sức cảm hóa mạnh mẽ diệu kì, lạ lùng chưa từng thấy như những con chữ viết của Huấn Cao.

Là người nghệ sĩ tài hoa tột bậc, đồng thời Huấn Cao còn là người anh hùng có khí phách phi thường. Nếu vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ Huấn Cao được miêu tả gián tiếp thì khí phách hiên ngang bất khuất được miêu tả trực tiếp qua hành động, ngôn ngữ. Là một nhà Nho có chí khí, Huấn Cao không chấp nhận cảnh sống cá chậu chim lồng, nhắm mắt làm ngơ trước cảnh đời thối nát để mong vinh thân phì gia. Vì sự công bằng của xã hội, hạnh phúc dân lành, Huấn Cao nổi dậy chống lại triều đình. Sự nghiệp anh hùng không thành, Huấn Cao bị khép vào án tử hình. Trước cái chết cận kề, Huấn Cao không hề hối tiếc hay lo lắng, sợ hãi. Trái lại, Huấn Cao luôn tỏ rõ dũng khí hiên nganh, bất khuất. Bẻ khóa vượt ngục đã trở thành tài của Huấn Cao khiến quản ngục và thầy thơ lại thán phục. Bất cứ lời nói hành động nào của Huấn Cao dường như cũng toát lên khí phách hiên ngang, bất khuất của vị đại trượng phu. Tuy nhiên, nếu phải chọn một hành động điển hình cho khí phách ấy, nhiều người chọn hành động dỗ gông lúc nhập ngục. Đối mặt với bọn tiêu lại giữ tù, cai tù hống hách, bạo ngược, Huấn Cao không hêd khúm núm, sợ sệt như những tù nhân khác. Hành động của Huấn Cao có khác nào một cái tát khinh bỉ vào mặt bọn cai tù cặn bã. Dõi theo hành động, thái độ của Huấn Cao trong nhà giam những ngày cuối cùng, người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Chẳng những Huấn Cao thản nhiên nhận rượu thịt – quà biếu của quản ngục coi đó là việc vẫn là trong hứng sinh bình lúc chưa bị giam cầm. Trước cường quyền không lùi bước, trước cái chết không chịu khuất phục, đó là khí phách anh hùng Huấn Cao. Khi thầy thơ lại ngập ngừn báo tin cho ông biết sáng sớm mai ông phải về kinh lãnh án tử hình, không một phút lo âu, không một giây sợ hãi, Huấn Cao đón nhận cái chết bằng nụ cười. Đó là nụ cười ngông ngạo của người sẵn lòng tin “giữ trinh bạch linh hồn trong bụ bẩn”. Không chỉ là người nghệ sĩ tài hoa, Huấn Cao đúng là trang anh hùng có khí phách phi thường.

Nhà văn vĩ đại V.Hugo đã từng nói: “Trước bộ óc vĩ đại ta phải cúi đầu nhưng trước trái tim vĩ đại ta phải quỳ gối”. Học theo tư tưởng của văn hòa Hugo, trước hình tượng Huấn Cao, mỗi người đọc chúng ta ắt phải cúi đầu và quỳ gối. Bởi Huấn Cao không chỉ là một nghệ sĩ tài năng siê biệt, một đấng anh hùng có khí phách phi thường mà ông còn là hiện thiên của nhân cách cao đẹp, thiên lương trong sáng vô ngần. Là một người nghệ sĩ thư pháp tài hoa tột bậc, những con chữ của Huấn Cao là một vật báu đối với bao người. Cả đời, Huấn Cao mới tặng chữ cho ba người. Không mềm lòng trước tiền bạc, quyền uy, trước sau Huấn Cao chỉ trân trọng tình tri âm, tri kỉ. Đến khi hiểu được ước nguyện của quản ngục, Huấn Cao chẳng những cho chữ mà còn mỉm cười mãn nguyện. Quả thật, không hạnh phúc sao được khi giữa thế giới ngục tù, tối tăm, bẩn thỉu ta lại bắt gặp một tấm lòng trong sáng, biết trọng người ngay, biết kính mến khí phách và tài năng. Tuy sẵn lòng cho chữ quản ngục nhưng Huấn Cao vẫn day dứt “Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Ở trên đời này, khi mắc lỗi, hầu hết con người ta tìm cách trốn tránh và đổi lỗi cho người khác, cho hoàn cảnh thế nên hành động ăn năn, hối hận là rất đáng quý chỉ có ở những nhân cách tử tế. Lại day dứt ân hận trước những sai lầm suýt mắc phải, những sai lầm chỉ mình mình biết, mình mình hay, chỉ có ở những nhân cách cao đẹp mới như vậy.

Kết lại truyện “Chữ người tử tù” là cảnh cho chữ – một cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Không chỉ vậy, nó còn là bệ phóng hoàn hảo làm nổi hình nổi bật các nhân vật và nổi bật tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Đặc biệt ở cảnh cho chữ, ta thấy tài năng và khí phách của Huấn Cao. Vậy là, bằng tài năng bà tâm huyết, Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Huấn Cao, sự hiện thân cho cái đẹp kì diệu cùng hình tượng quản ngục và cảnh cho chữ. Không chỉ “Vang bóng một thời”, mà “Chữ người tử tù” sẽ neo đạu mãi trong tâm hồn người đọc như một dấu son không bao giờ phai.

Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù – Bài số 2

Giữa cuộc đời cũng như nghệ thuật, Nguyễn Tuân là người có lí tưởng thẩm mĩ, phong cách sáng tác rõ nét, độc đáo. Trước Cách mạng tháng Tám, sống trong hoàn cảnh đất nước nô lệ, trong môi trường xã hội ngột ngạt, tù túng, người nghệ sĩ săn tìm không mệt mỏi cái đẹp ấy đã tìm về những vẻ đẹp một thời vang bóng.

Chữ người tử tù là một truyện ngắn lãng mạn xuất sắc, tiêu biểu cho lý tưởng thẩm mĩ và phong cách nghệ thuật của ông.

Chữ người tử tù là một truyện ngắn gọn. Thế giới nhân vật ở đó cũng không nhiều. Thế nhưng nhân vật nào trong thiên truyện này cũng hiện lên thật sống động với số phận riêng, vẻ đẹp riêng. Vốn là người phóng túng, tài hoa, khinh bạc cái xã hội thối nát đương thời, Nguyễn Tuân đã say sưa, trân trọng khi xây dựng hình tượng người tử tù Huấn Cao.

Khi xây dựng hình tượng người tử tù Huấn Cao, Nguyễn Tuân dựa vào nhân vật lịch sử từng một thời vang bóng. Vậy ông đã tìm thấy những gì ở Cao Bá Quát – nguyên mẫu của hình tượng Huấn Cao? Cao Bá Quát nổi danh với văn hay chữ tốt, lại là người sống có lý tưởng, có bản lĩnh, bất chấp cường quyền. Trong lịch sử dân tộc ta, không thời đại nào vắng bóng anh hùng, nhưng kiểu anh hùng – nghệ sĩ như Cao Bá Quát không nhiều lắm. Cao Bá Quát vừa là một nhà nho uyên bác, vừa là một lãnh tụ nông dân khởi nghĩa vừa là một cá tính tài hoa vừa là một nhân cách cứng cỏi. Vì thế, chúng ta hiểu vì sao trong sáng tác của Nguyễn Tuân cả trước và sau Cách mạng, Huấn Cao là một trong số không nhiều nhân vật mang vẻ đẹp rực rỡ, vẹn toàn nhất. Ở nguyên mẫu Cao Bá Quát, Nguyễn Tuân đã tập trung tô đậm những nét cao quý phù hợp với lý tưởng của mình và Huấn Cao là hiện thân lồng lộng của cái đẹp trong hoàn cảnh đen tối, tù túng thời đó.

Huấn Cao trước hết là một con người tài hoa khác  thường. Mở đầu truyện ngắn, thông qua cuộc đối thoại bàn luận giữa quản ngục và thơ lại mà nhà văn giới thiệu với người đọc vẻ đẹp này của Huấn Cao. Ấy là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và đẹp. Người xưa thường treo trong nhà, nơi trang trọng nhất những bức họa quý, những hàng chữ đẹp viết trên lụa óng hoặc khắc trên gỗ phủ sơn mài. Ấy là tài thư pháp, là thú chơi chữ – một nét đẹp của truyền thống dân tộc… Bởi cảm cái tài viết chữ của Huấn Cao nên viên quản ngục có sở nguyện thiết tha: có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết. Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm. Trong tâm niệm của quản ngục có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời. Cái sở nguyện thầm kín, thiết tha trôi đi, ngày Huấn Cao bị hành hình mỗi lúc một gần.

Chữ ông Huấn Cao phải đẹp lắm, quý lắm thì viên quản ngục mới kiên trì, mới đối xử nhún nhường đến thế để mong được ông cho chữ. Mà đâu phải kiên trì, nhún nhường (ngay cả khi bị lạnh lùng đuổi ra), còn phải dũng cảm nữa. Biệt đãi một tên tử tù như thế rõ ràng là hành vi rất nguy hiểm. Hành vi này ắt phải trả giá rất đắt nếu bị bại lộ.

Người nghệ sĩ tài hoa Huấn Cao cũng là một con người có tâm đẹp. Nguyễn Du đã từng viết Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Chính cái tâm này khiến người đời càng nể trọng Huấn Cao, khiến viên quản ngục khổ tâm nhất là có một ông Huấn Cao trong tay mình, dưới quyền mình mà không biết làm thế nào mà xin chữ. Có tài nhưng Huấn Cao đâu dễ phung phí! Chữ của ông vàng ngọc không mua được, quyền thế không ép buộc được. Cái tâm của một kẻ có tài thể hiện ở lòng tự trọng, ở chỗ biết giữ lấy, biết tiếc cho cái tài của mình, biết dùng cái tài đúng lúc, đúng chỗ.

Lòng tự trọng của Huấn Cao thể hiện rõ nhất qua ý thức giữ trọn thiên lương dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Khi viên quản ngục đánh bạo mở cửa buồng giam ông Huấn, ngỏ ý muốn biệt đãi ông miễn là ngài giữ kín cho, Huấn Cao chưa hiểu lòng tốt, thiên lương ở viên quản ngục khác thường này, cứ nghĩ y như trăm ngàn viên quản ngục tham lam, tàn nhẫn khác. Ông không muốn hưởng ơn huệ của người khác, nhất là lúc người ấy đang ở phía đối địch với mình. Cho đến khi cất lên những lời truyền dạy, khuyên bảo cuối cùng đối với viên quản ngục, Huấn Cao vẫn muốn người này giữ thiên lương cho lành vững, đừng để nhem nhuốc mất cái đời thiên lương đi.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu) - Văn mẫu lớp 11

Là người từng lãnh đạo nông dân tỉnh Sơn khởi nghĩa chống lại triều đình để rồi lãnh án tử hình, là kẻ cầm đầu bọn phản nghịch, Huấn Cao còn nêu cao vẻ đẹp của khí phách cứng cỏi, của tinh thần dũng cảm, thái độ coi thường cái chết. Ngay từ những giờ phút đầu tiên xuất hiện ở trại giam tỉnh Sơn, Huấn Cao đã tỏ rõ khí phách của mình bằng hành động rỗ gông. Bất chấp lời dọa đùa của tên lính áp giải, người đứng đầu cái gông bằng thang gỗ lim nặng dễ đến bảy, tám tạ ấy đã lạnh lùng khom mình thúc mạnh đầu gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái khiến một trận mưa rệp rơi xuống. Cũng người ấy ngồi đợi ngày chết chém mà không hề tỏ ra nao núng, vẫn ung dung đường hoàng… Cũng người ấy cố ý làm ra khinh bạc đến điều đối với viên quản ngục… Lại đến khi nhận được tin sáng sớm ngày mai sẽ bị giải về kinh để lĩnh án tử, người ấy chỉ lặng nghĩ một lát rồi mỉm cười. Huấn Cao quên việc cái chết đang đến gần mà chỉ lo làm sao đền đáp tấm lòng biệt nhỡn liên tài của viên quản ngục.

Từ bước ngoặt trong cốt truyện để đi đến cảnh cho chữ trong nhà giam cuối truyện ngắn, ta thấy hiện lên vẻ đẹp của một tấm lòng trọng nghĩa, của một người ứng xử cao thượng, đầy tinh thần văn hóa. Những bậc anh hùng – nghĩa sĩ thời xưa bao giờ cũng coi trọng đạo nghĩa. Vì chữ nghĩa, vì ân trả oán đền mà họ sẵn sàng hi sinh thậm chí cả tính mạng của mình. Khi chưa nhận ra lòng tốt của viên quản ngục, Huấn Cao không thèm chấp, lạnh lùng, cứng rắn. Song lúc chợt hiểu được đây là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ thì ông tìm mọi cách để báo đáp. Cao Bá Quát đã từng viết: Nhất sinh đê thủ bái lĩnh mai (Suốt đời chỉ biết cúi lạy trước hoa mai). Huấn Cao – con người suốt đời ngẩng cao đầu trước cường quyền, bạo lực ấy đã biết cúi đầu trước vẻ đẹp của một tấm lòng biệt nhỡn liên tài, một nhân cách. Con người không hề sợ gông cùm, tiền bạc ấy đã biết sợ phụ một tấm lòng trong thiên hạ: Ta cảm cái lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy quản đây lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ. Chính Huấn Cao đã chủ động vạch ra kê hoạch cho chữ.

Ngòi bút của Nguyễn Tuân thật giàu tính tạo hình và đầy chất thơ khi dựng lên một cảnh tượng xưa nay chưa từng có ở cuối truyện ngắn. Bút pháp nghệ thuật đối lập được nhà văn vận dụng triệt để trong cảnh này. Trong cảnh cho chữ hiện lên sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối, giữa hành động và hoàn cảnh, giữa sức mạnh tinh thần, bản lĩnh con người và vóc dáng ngoại hình, giữa cái đẹp, cái cao thượng và cái xấu, cái ác. Hoàn cảnh, địa điểm cho chữ xưa nay chưa từng có: bày ra trong buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy màng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián, ánh sáng đỏ rực của bó đuốc tẩm dầu khiến khói tỏa như đám cháy nhà; tư thế của người cho chữ, nhận chữ xưa nay chưa từng có: Huấn Cao cho chữ trong đêm cuối cùng của cuộc đời, vẫn một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, viên quản ngục thì cẩn trọng, khúm núm, thầy thơ lại gầy gò thì run run bưng chậu mực. Giờ đây, Huân Cao trở lại cương vị người cho chữ, người truyền giáo; viên quản ngục ở vị trí người nhận chữ, được đáp ứng sở nguyện thiết tha của mình bấy lâu nay. Không có kẻ phạm tội, không có cai ngục, thơ lại. Chỉ có người nghệ sĩ tài hoa đang sáng tạo cái đẹp trước những đôi mắt sùng kính, ngưỡng mộ của những kẻ liên tài.

Tất cả đều sống động trong ánh sáng thuần khiết của cái đẹp, của thiên lương và khí phách. Sự gặp gỡ kì lạ giữa ba tấm lòng ấy khiến cho nơi buồng giam nhơ bẩn, giữa chốn ngục tù tàn bạo ngời sáng lên một sức mạnh của nhân cách cao cả, của tài hoa, của cái đẹp. Với cảnh cho chữ, kẻ tử tù Huấn Cao đã đi vào bất tử.

Qua những phân tích trên, có thể không ngần ngại khẳng định rằng Huấn Cao là một trong những hình tượng nhân vật đẹp nhất của sự nghiệp văn học Nguyễn Tuân. Hình tượng này thể hiện khá đầy đủ đặc sắc tư tưởng thẩm mĩ và phong cách nghệ thuật của nhà văn.

Nét nối bật đầu tiên trong tư tưởng thẩm mĩ Nguyễn Tuân qua việc xây dựng hình tượng Huấn Cao là lòng yêu quý truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Khi mượn lời viên quản ngục, người thơ lại khi miêu tả trực tiếp, Nguyễn Tuân không hề giấu giếm niềm say sưa, thán phục trước cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp của Huấn Cao. Phải phục cái tài ấy đến mức nào, phải thiết tha ánh sáng của chủ nghĩa đến đâu thì viên quản ngục mới cam lòng, nhẫn nhục đến như thế. Qua cuộc gặp gỡ khác thường giữa Huấn Cao và viên quản ngục để đi đến cảnh tượng cho chữ xưa nay chưa từng có. Chữ người tử tù nêu lên bài học về thái độ tôn trọng tài năng, phẩm giá ở con người. Tấm lòng biệt nhỡn liên tài này chính là biểu hiện sâu sắc của chủ nghĩa nhân đạo đã trở thành truyền thống trong lịch sử văn học dân tộc.

Tài phải gắn cùng tâm. Chữ nghĩa đâu phải là chỉ là chuyện chữ nghĩa mà chính là chuyện của nhân cách, thiên lương. Qua truyện ngắn này, Nguyễn Tuân đã nêu lên một quan niệm về vẻ đẹp con người, đặc biệt trong những hoàn cảnh đen tối. Tiêu chuẩn để xứng đáng với danh hiệu con người mà Nguyễn Tuân dựa vào là thiên lương. Huấn Cao là một bậc anh hùng tài hoa và có thiên lương. Viên quản ngục là người ở môi trường đen tối, làm nghề nghiệp tàn nhẫn nhưng biết trọng tài, biết quý giữ thiên lương. Ấy là kẻ đại diện cho bạo lực đen tối nhưng lại khát khao ánh sáng của chữ nghĩa. Huấn Cao và viên quản ngục càng đẹp lên trong cách ứng xử với nhau đầy văn hóa. Từ cuộc gặp gỡ khác thường giữa hai con người khác thường này, Nguyễn Tuân đã đặt ra vấn đề sức sống của tài năng, của nhân cách con người trước hoàn cảnh khắc nghiệt, thể hiện khát vọng được giữ gìn và phát huy trọn vẹn tài năng, nhân cách cao cả ấy. Kết thúc tác phẩm là sự chiến thắng của tài năng, của nhân cách người tử tù, là tác dụng cải biến con người, nhân lên gấp bội cái phần thiên lương ở con người từ hành động nghĩa hiệp, cao thượng của Huấn Cao.

Huấn Cao chết nhưng chữ của Huấn Cao còn, những hành động và lời dạy của Huấn Cao đã cảm hóa được quản ngục. Qua lời truyền dạy thiêng liêng của Huấn Cao khi cho chừ, Nguyễn Tuân như muôn khẳng định rằng cái đẹp, cái thiên lương không thể bị đày ải mãi giữa đống cặn bã, ánh sáng của chữ nghĩa và thiên lương ở con người đừng nên để nhem nhuốc mất mà phải tìm môi trường trong sáng cho nó tồn tại. Chuyện chơi chữ chính là chuyện nhân cách, chuyện lẽ sống.

Có thể nói Chữ người tử tù là một bài ca bi tráng về sự bất diệt của thiên lương, của tài năng và nhân cách cao cả ở con người. Những con người đáng kính Nguyễn Tuân say sưa ca ngợi ở đây như những ngọn lửa sáng trong đêm tối mông lung. Những ngọn lửa ấy có sức lan tỏa chiếu sáng cho nhiều đời sau.

Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù – Bài số 3

“Vang bóng một thời” thực chất là sự nổi loạn của cái tôi tài hoa, khinh bạc chống lại xã hội phàm tục. Qua đó, Nguyễn Tuân đã thể hiện một khía cạnh của văn hóa cổ truyền dân tộc, về những con người tài hoa, nghệ sĩ, đôi chỗ còn thấp thoáng những nhân cách lớn, những khí phách ngang tang như Huấn Cao trong “Chữ người tử tù. Đây, có thể nói, là nhân vật hư cấu tiêu biểu nhất của Nguyễn Tuân trong cái dư âm vòn vang vọng lại của thời phong kiến đã qua. Qua nhân vật này, ông thể hiện gần như trọn vẹn cái tôi của mình. Một anh hùng sa cơ lỡ vận mà hiên ngang, bất khuất, có tài, có tâm, mến mộ nghĩa khí. Cho nên mới nói nhân vật Huấn Cao được xây dựng rất thành công, rất đẹp, rất đặc sắc.

Là một nhà văn học theo “chủ nghĩa xê dịch”, ông coi “đi” là hình thức tốt đẹp nhất của sự thoát li, thoát li khỏi cái gò bó của cuộc sống hàng ngày, đi để “luôn luôn thay đổi thực đơn cho giác quan”, vậy nên những tác phẩm của ông thường mang những tính cách độc đáo, những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, những phong cảnh tuyệt mĩ. Những điều đó đều được kết hợp hài hòa trong truyện ngắn của ông, mà tiêu biểu là tập “Vang bóng một thời”. Được ví như “tờ hoa” của thời đại, những truyện ngắn trong đó mô tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã, những cách ứng xử giữa người với người đầy lễ nghi nhịp nhàng. Phải nói bút pháp của Nguyễn Tuân đã đạt đến trình độ điêu luyện mới có khả năng truyền tải cho độc giả những thuần phong mĩ tục không mấy gần gũi một cách sinh động, hài hòa nhất.

Huấn Cao, một nhân vật “văn kì thanh bất kiến kì hình”, xuất hiện trong tác phẩm lần đầu tiên qua cuộc đối thoại giữa Viên Quản Ngục và thầy thơ lại: “Tôi nghe ngờ ngợ. Huấn Cao? Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp phải không?”, đúng vậy “chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm”. Hay: “ngoài cái tài biết chữ tốt, lại cò có tài bẻ khóa và vượt ngục”, chính điều này cũng làm Viên Quản Ngục e ngại không ít: “Thầy liệu cái buồng giam đó có cầm giữ nỗi một tên tù có tiếng là nguy hiểm không?”. Chỉ mấy câu nói, chân dung sơ bộ của Huấn Cao đã tạo một ấn tượng nơi người đọc, một con người văn võ toàn tài, một vị anh hùng kết tinh, một đại diện cho cái đẹp. Lúc này đây, từ vài đường họa của Nguyễn Tuân, người đọc đã mường tượng trong đầu một con người hội tụ cả ba phẩm chất nhân, dũng, trí. Song vì sa cơ lỡ vận nên trở thành một tử tù. Dù vậy, nhân cách của ông vẫn không thể nhầm lẫn, đến thầy thơ lại phải thốt lên: “Tôi thấy những người có tài thế mà đi làm giặc thì đáng buồn lắm. Phải chém những người như vậy, tôi nghĩ mà thấy tiêng tiếc”. Không ai đi khóc người dưng nhưng phải công nhận rằng chính cốt cách ngạo nghễ phi thường và tấm lòng trong sáng biết quý trọng cái đẹp của Huấn Cao đã động được đến tâm của người khác.

Và rồi, Huấn Cao xuất hiện trước cửa đề lao, một tên tù án chém chuẩn bị thụ hình, vậy mà cứ hiên ngang, không chút mảy may run sợ. Hành động dỗ gông đã cho ta thấy được sức mạnh phi thường và ý chí bất khuất của ông: “Huấn Cao, lạnh lùng, chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tản đánh thuỳnh một cái. Then ngang chiếc gông bị giật mạnh, đập vào cổ năm người sau, làm họ nhăn mặt”. Một mình ông mà có thể kéo cả năm người thì quả là sức mạnh ít ai sánh bằng. Huấn Cao là một nhà nho, thì đáng lẽ phải thể hiện lòng trung quân một cách mù quáng, một lòng một dạ theo triều đình. Nhưng không, Huấn Cao nào chịu vào luồn ra cúi, không chịu sống trong cảnh nhung hoa áo gấm, thà làm giặc triều đình sống theo chính nghĩa mà mình vạch ra. Chí lớn không thành, thân mang tù tội nhưng cảnh đề lao không làm khuất lấp ngạo khí của Huấn Cao, mà qua đó nó còn góp phần làm nổi bậc uy phong, khí thế của ông.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát) - Văn mẫu lớp 11

Tác giả miêu tả sâu sắc trạng thái tâm lí của Huấn Cao trong những ngày chờ lãnh án. Một tù nhân án chém kề cận mà vẫn khinh bạc đến điều, không màn bận tâm đến những lời dọa nạt, khinh bỉ của bọn lính tốt. Ngay cả với gông xiềng, với cái chết mà thái độ ông vẫn lạnh lùng, dửng dưng thì thật sự là một người anh dũng. “Ông Huấn Cao vẫn thản nhiên nhận rượu thịt, coi như đó là việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình lúc chưa bị giam cầm”, thái độ thản nhiên như không của Huấn Cao càng khiến người đọc nể phục. Tuy bị giam cầm về thể xác nhưng ông Huấn vẫn tự do về tinh thần, “thân thể ở trong lao, tinh thần ỏ ngoài lao”. Ông điềm tĩnh nhận sự biệt đãi của Quản Ngục như một lẽ thường tình, tự cho mình cái quyền hưởng thụ đó vì đến trên đầu ông còn chẳng biết có ai thì việc gì phải bận tâm đến chút nhục tửu nhỏ nhoi này.

Đáp lại sự biệt đãi thân tình của Viên Quản Ngục vẫn là thái độ lạnh nhạt, thản nhiên, kín đáo bất cần lòng thương hại. Nhưng thái độ đó lại làm ngục quan thêm vài phần kính trọng, đến mức khép nép, khúm núm khi vào buồng giam hỏi sở nguyện của ông Huấn. Song ông chỉ nhận được một câu “bất cận nhân tình” của Huấn Cao: “Ngươi bảo ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”. Đấy có lẽ là câu nói thị uy nhất mà Huấn Cao đã nói. Ông làm ra khinh bạc đến điều, chờ đợi “những trò tiểu nhân thị oai”. Sự khinh bỉ, mỉa mai không giấu diếm như thể ông muốn đạp lên trên mọi bất công, mọi cái xấu xa đê tiện; đồng thời ném vào mặt xã hội bất lương, lừa dối ấy sự thách thức của mình. Có thể nói ở đoạn này, tính cách quật cường, ngang tàng của Huấn Cao được khắc họa rõ ràng nhất.

Nói thì nói thế nhưng “ngoài việc nghĩ đến chí lớn không thành, ông Huấn Cao còn phải bận tâm nghĩ đến sự tươm tất của quản ngục” khi không chỉ ông mà cả năm người bạn của ông cũng được biệt đãi như thế. Cũng khó thể trách, vì vốn là con người “chọc trời quấy nước”, trải qua bao nhiêu gian truân, Huấn Cao cũng có chút đa nghi khi giữa chốn xô bồ, nhơ nhuốc như lao tù này, lại có một người như Viên Quản Ngục. Biết đâu là sự tính toán, lòng người khó dò. Tuy nhiên, chi tiết này đã cho thấy ở Huấn Cao đã có sự dao động. Ở một góc nào đó trong lòng, ông đã dần thay đổi cách nhìn đối với Viên Quản Ngục hay rộng hơn là đối với thế giới đầy dối lừa này.

Dù là một người khó tính – “tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ”, nhưng Huấn Cao tuyệt đối không cố chấp. Nhưng Huấn Cao lại có một quan điểm vô cùng rõ ràng về việc cho chữ: “Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ. Đời ta cũng mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi”. Qua đó, ta cảm nhận sâu sắc rằng Huấn Cao là một bậc hào kiệt. Quyền thế, vàng ngọc không thể lay chuyển ông nhưng tấm lòng của quản ngục thì được. Lúc này, không còn cái gọi là hai con người ở hai chiến tuyến mà chỉ là hai tâm hồn đồng điều. Giờ đây cái dao động của ông đã hiện thực hóa, ông thực sự coi quản ngục là tri kỉ tâm giao. Con người ông chính trực là thế, khẳng khái là thế. Phải chăng cái chí tung hoành của một đời người đã hun đúc ông thành một con người hào sảng, nghĩa khí, thấu tình đạt lí.

Với quan điểm đó, Huấn Cao đã đồng ý cho chữ: “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy Quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Khi ông nhận ra tấm lòng cùng sở thích cao quý của quản ngục, ông không còn thái độ thù địch mà còn ân hận vì mình đã “xuýt chút nữa phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Là một trượng phụ đội trời đạp đất, có lẽ với Huấn Cao việc đáng hổ thẹn nhất là phụ lòng người. Ông cho rằng đó là là một việc không thể chấp nhận, không thể tha thứ. Điều này chứng minh rằng Huấn Cao không chỉ văn võ song toàn mà còn là tài tâm vẹn toàn. Ở ông, ta thấy được sự hòa quyện diệu kì của khối óc và trái tim. Điều đó không phải là dâng nộp cái tài của một tên tử tù cho Viên Quản Ngục đang coi giữ mình mà là sự cảm kích trân trọng của người nghệ sĩ đối với kẻ liên tài, là sự đáp lại của một tấm lòng với một tấm lòng.

Trong cảnh buồng giam tối tăm chật hẹp, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có diễn ra: “Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván”. Với tư thế ung dung, tự tại ấy Huấn Cao đang dồn hết tinh hoa vào từng nét chữ. Đó là dòng chữ cuối cùng của con người tài hoa ấy. Những nét chữ chan chứa tấm lòng của Huấn Cao và thấm đẫm nước mắt của người đọc. Khác với chân dung đầy khí phách lúc đầu, giờ đây một Huấn Cao vẫn bệ vệ, oai phong hiện lên trong tâm trí người đọc nhưng lại lẫn chút bi thương. Một đời tài hoa, lỗi lạc nay lại trong chốn tù ngục mà để lại những nét chữ cuối cùng. Quả là có chút chạnh lòng.

Mặc dù thế, Huấn Cao vẫn thành tâm khuyên nhũ quản ngục: “Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. Một lời khuyên có chút khiếm nhã nhưng Huấn Cao lại không câu nệ tiểu tiết mà nói ra, xem chừng ông rất coi trọng Viên Quản Ngục. Chỉ có những người bạn thâm giao mới nói những lời từ tận đáy lòng như thế. Hẳn là sự cảm phục nhân cách cao thượng của quản ngục nên Huấn Cao mới không muốn để cho “người có tâm điền tốt và thẳng thắn lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”. Một phần ông cũng không muốn cái đẹp tồn tại lẫn vào trong cái tạp nham, dơ bẩn của chốn thị phi nên mới khuyên quản ngục tìm về nới làng quê mà ở, tâm tịnh thì mới có thể thưởng thức cái đẹp.

Bằng nghệ thuật dựng cảnh ấn tượng, tình huống truyện độc đáo, Nguyễn Tuân đã tạo nên một không gian cổ kính, lung linh trên từng trang giấy, khiến người đọc ngỡ như chính mình bước vào không gian đó cũng như thế giới nội tâm nhân vật. Huấn Cao được ông xây dựng với sức hấp dẫn người đọc ngay từ đầu, và cứ thế, cuốn hút suốt chiều dài thiên truyện. Đó là sức mạnh nghệ thuật ở một nhân vật có lý tưởng. Cùng với thủ pháp đối lập độc đáo, tác giả đã dựng nên một khung cảnh sống động, chân thực khi sử dụng ngôn ngữ giàu tính tạo hình. Khả năng hư cấu tài hoa, uyên bác của ông làm người đọc bị cuốn hút vào tác phẩm một cách triệt để nhất.

Qua tác phẩm, Nguyễn Tuân đã truyền tải đến người đọc một quan điểm nghệ thuật hết sức rõ nét: nghệ thuật phải hướng đến cái đẹp mà cái đẹp phải xuất phát từ cái thiện. Đối với ông nghệ thuật chân chính là: chân – thiện – mĩ. Chân là chân thực, cái chân thực đó có lúc lại khiến người khác choáng ngợp, chẳng hạn như một người như quản ngục lại có phẩm chất và sở thích vô cùng thanh cao giữa nơi xô bồ, hỗn loạn như đề lao. Thiện là là lương thiện, văn chương chính là hướng đến cái thiện, có thiên lương thì người ta mới có thể cảm thụ cái hay, cái đẹp. Cuối cùng là mỹ – đẹp, cái đẹp ở đây không nhất thiết lúc nào cũng bóng bẩy, hào hoa như cách Nguyễn Du vẽ Thúy Kiều; đôi lúc những đường nét thô kệch của Thị Nở cũng là một cái đẹp theo cách vẽ gồ ghề của Nam Cao. Và Nguyễn Tuân cho rằng chỉ có sự kết hợp của cả ba yếu tố trên mới thực sự là nghệ thuật, đó là một quan điểm được đánh giá cao.

Trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”, Huấn Cao đã mang đến chốn lao tù, cho cái địa ngục sống này một ánh sáng huyền diệu, lung linh, chói lọi, soi sáng đạo lí làm người. Thiên lương cao đẹp của ông là một vầng hào quang tỏa sáng rực rỡ trên bầu trời đầy u ám của ngục tù. Nguyễn Tuân đã khắc họa thành công nhân vật Huấn Cao – một con người tài hoa, có tài tâm trong sáng và khí phách hiên ngang, bất khuất. Qua đó, nhà văn thể hiện quan niệm về cái đẹp, khẳng định sự bất tử của cái đẹp và bộc lộ thầm kín tấm lòng yêu nước. Tác phẩm thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong việc tạo dựng tình huống truyện độc đáo, trong nghệ thuật dựng cảnh, khắc họa tính cách nhân vật, tạo không khí cổ kính, trang trọng, trong việc sử dụng thủ pháp đối lập và ngôn ngữ giàu tính tạo hình.

Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù – Bài số 4

Trong vườn văn học Việt Nam, đặc biệt là trong trào lưu văn học lãng mạn 1930 – 1945 tỏa ngát những bông hoa muôn màu, muôn sắc. Giữa vườn hoa ngàn sắc tía đó nổi lên một bông hoa ngát hương: Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân – tác phẩm viết về "một thời" đã qua nay chỉ còn "vang bóng". Trong Vang bóng một thời, truyện ngắn Chữ người tử tù có một giá trị riêng, nổi bật. Ai đã từng đọc Chữ người tử tù đều rung động, cảm phục, sùng kính trước vẻ đẹp của người anh hùng sa cơ lỡ vận mà hiên ngang, bất khuất, có tài, có tâm, mến mộ nghĩa khí, đó là Huấn Cao. Huấn Cao là kết tinh, là hội tụ phẩm chất của một con người có nhân, dũng, khí. Ông là tập hợp của tất cả những gì tinh túy nhất, thanh tao nhất, tinh khiết nhất.

Huấn Cao là một hình tượng thẩm mĩ, một nét đẹp trong cuộc sống đời thường, là một người có nhân cách vẹn toàn, vừa có tài văn, tài võ vừa là người có nghĩa khí. Huấn Cao phảng phất bóng dáng của Cao Bá Quát, là linh hồn của nhà nho kiệt xuất. Cao Bá Quát đã từng sống một cuộc sống tung hoành ngang dọc, là một người có tài, có đức, văn hay chữ đẹp, sống trong giai đoạn triều Nguyễn, dám đứng lên chống lại bọn thực dân phong kiến, chống lại bọn cường quyền, đả kích xã hội phong kiến thối nát, bỉ ổi. Phải chăng, Nguyễn Tuân đã mượn Huấn Cao để ngợi ca Cao Bá Quát và mặt khác dựa vào Cao Bá Quát, khái quát lên một hình tượng Huấn Cao mà cái đẹp của tài hoa hòa hợp với cái đẹp của khí phách, tuy chí lớn không thành nhưng vẫn coi thường hiểm nguy, gian khổ, xem khinh cái chết. Tư thế của Huấn Cao hiên ngang lồng lộng toả sáng trên cái nền đen quánh của tù ngục. Nói đến vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao trước phải nhắc tới cái tài. Huấn Cao là một người viết chữ đẹp: "Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm". Trong thị hiếu thẩm mĩ của người xưa, từ Trung Quốc đến Việt Nam thì viết chữ đẹp là cả một nghệ thuật cao quí và chơi chữ đẹp là thú chơi thanh cao của các cụ đồ nho xưa. Viết chữ đẹp là biểu hiện của con người có trí thức, một vẻ đẹp hoàn mĩ trong văn hóa truyền thông dân tộc. Nó như một sản phẩm nghệ thuật, như một vật báu mà con người thèm muốn, khát khao. Ngoài ra, Huấn Cao còn có tài bẻ khóa vượt ngục tù, coi nhà tù như nơi không người, ra vào như chơi. Điều đó thể hiện một con người khát khao tự do, hoài bão tung hoành, luôn đấu tranh cho chính nghĩa, chống lại triều đình phong kiến mục nát. Tất cả những tài năng đó làm thành một Huấn Cao có tầm lớn, đi vào trong lòng độc giả như một người anh hùng, một trượng phu đã vượt lên trên tất cả cái bình thường, nhỏ nhoi, hẹp hòi của cuộc đời để vẫy vùng, để "chọc trời khuây nước". Nhưng trong cái xã hội phong kiến người bóc lột người, nhân tài như lá mùa thu ấy thì Huấn Cao hiện lên là một anh hùng thất thế. Nguyễn Du cũng đã từng viết về Từ Hải – một anh hùng thời đó:

Xem thêm:  Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Văn mẫu lớp 11

"Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn"

Song vị "hùm thiêng" Huấn Cao này tuy có sa cơ, lỡ nghiệp nhưng Huấn Cao của chúng ta vẫn hiên ngang, bất khuất, vẫn dũng khí kiên cường. Đo đó, người đọc không chỉ nhận ra Huấn Cao là một người có tài mà ông còn là một người có dũng khí, hiên ngang trước bạo lực cường quyền, trước cái chết đang treo lơ lửng. Hết mực ca ngợi cái tài của Huấn Cao, đồng thời Nguyễn Tuân cũng hết sức trân trọng cái tâm của Huấn Cao. Bởi “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” (Nguyễn Du) hay như Lạc Du, một nhà thơ yêu nước của Trung Quốc thời nhà Tống, sau cuộc đời làm thơ của mình đã khuyên con:

Như quả dục học thi

Công phu tại thi ngoại

(Nếu như quả là con muốn học làm thơ thì công phu là ở ngoài việc chữ nghĩa)

Cái Tâm của ông cũng vuông vắn, cao khiết và đầy sức chinh phục như nét chữ của ông vậy. Có lẽ, “phong cách tức là con người” đã được thể hiện rất rõ ở đây.

Mặc dù viết chữ Nho đẹp “Có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời” lẽ ra ông trung thành với đạo thánh hiền, giữ mình theo lễ nghĩa Nho giáo, trung với vua, một lòng một dạ với triều đình. Nhưng không! Huấn Cao không chịu vào luồn ra cúi, không chịu sống trong cảnh nhung hoa áo gấm “cá chậu chim lồng”, thà làm “giặc triều đình” sống theo chính nghĩa mà mình đã vạch ra. Sự nghiệp dang dở, bị bắt, bị kết vào mực án cao nhất là tử hình ông vẫn không hề tỏ ra run sợ, không mảy may tiếc nuối hối hận. Huấn Cao – ngôi sao Hôm chính vị ấy – bước vào nhà ngục trong tư thế thật hiên ngang, khí phách, ung dung. Trong con mắt của bọn lính ông thật cao thượng, bất khuất, kinh đời. Ngay cả với gông xiềng, với cái án tử hình sắp đến gần, thái độ của ông vẫn ngang tàng, lạnh lùng. Huấn cao ung dung, lãnh đạm, đỗ gông trước mặt chúng nó, không thèm chấp lời đe dọa của bọn lính”chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thành gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái”. Ông bìn thản ăn những món ăn do quan ngục biệt đãi, “coi như mình có quyền hưởng thụ", ông làm việc theo ý mình, hoàn toàn tự chủ. Ông ngước mắt nhìn lên nhà lao, lên những bộ mặt bất nhân nham nhở. Cái nhìn hiên ngang đó không hề run sợ, không căm hờn, oán giận, không van xin, cầu khẩn. Đó là cái nhìn của một kẻ dám làm, dám chịu.

Thậm chí ông còn kinh bạc, nặng lời khi chưa rõ ý tốt của quản ngục: "Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân tay vào đây".

Con người "khuấy nước, chọc trời" này chẳng biết nể sợ ai. Nếu trong đời thường, "trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ", "nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối bao giờ", thì khi sa vào chốn giam cầm thì mấy chén rượu, vài bữa cơm thịt của hai con người vô danh tiểu tốt ở chốn ngục tù bé nhỏ này làm sao mà lung lạc được ông hay vì quyền uy mà làm ông run sợ. Thật đúng là nhân cách lí tưởng mà con người ngàn năm qua vẫn ao ước: “Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Cái thái độ khinh đời ngang tàng đó phải chăng đã làm cho viên quản ngục ngây ngất, kính nể. Thái độ kính phục của quản ngục gợi cho ta nhớ đến mootk trong những đoạn hay nhất của bộ tiểu thuyết Những người khốn khổ của Victo Huygô, đoạn Người cầm quyền khôi phục uy quyền. Trong đó, kẻ có quyền hành trong tay luôn bắt bớ, đánh đập, hành hạ, xúc phạm con người một cách không nương tay, không thương tiếc là thanh tra Giave đã bị khuất phục trước vẻ đẹp nhân cách của người tù khổ sai mà hắn suốt đời săn lùng là Giăng Van giăng. Thì ra quyền lực không phải là uy quyền, bạo lực, là gông cùm, xiềng xích. Quyền lực là cái đẹp, phẩm chất Người, chủ nghĩa nhân đạo, là thiên lương vẫn có uy quyền riêng bất khả chiến thắng. Chính vì thế, Huấn Cao đã mang đến cho chốn lao tù, cho cái địa ngục sống này một ánh sáng kỳ ảo, huyền diệu, lung linh, chói lọi, soi sáng đạo lí làm người. Thiên lương cao đẹp của ông là một vầng hào quang tỏa sáng rực rỡ trên bầu trời đầy u ám của nhà tù.

Huấn Cao – vầng hào quang chói lọi này không những là một người có dũng, trí mà còn là một con người có trái tim nhân hậu. Khi biết được thiện ý của quản ngục, Huấn Cao đã rất cảm động.

Từ đó, ta thấy ông Huấn là người có lòng bao dung độ lượng, chia sẻ nỗi niềm cùng với hai người bạn mới mà suýt nữa ông đã đánh mất: "Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quí như vậy. Thiếu chút nữa, ta đi phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ". Sự biệt đãi bằng vật chất và thái độ ân cần không làm cho trái tim sắt đá kia phải mềm lòng. Chính "cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài" và những "sở thích cao quí", hướng về văn minh, văn hóa mới cảm hóa được trái tim dường như đựợc đúc bằng thép ấy. Thái độ "biệt nhỡn liên tài" của Huấn Cao đối với quản ngục không phải là sự "liên tài" sự trả ơn đối với những người đã đối xử tử tế, biết chơi chữ củaa mình mà là sự trân trọng, cảm động trước một nhân cách "Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn". Quản ngục sống giữa bùn nhơ nhớp nháp của lao tù mà vẫn giữ được Thiên lương, biết trọng người tài, kính cái đẹp thì thật là đáng cảm phục. Đó cũng là một đóa sen trong bùn.

Ánh hào quang rực rỡ, vẻ đẹp tuyệt diệu tỏa ra rất rõ ở cảnh Huấn Cao cho chữ. Nó bộc lộ trọn vẹn nhất vẻ đẹp của nhân cách Huấn Cao. Ở đây vẻ đẹp này tỏa hương thơm ngát hơn lúc nào hết. Dưới ngòi bút tài ba Nguyễn Tuân, một cảnh tượng đầy kịch tính đã diễn ra, một cảnh tượng "xưa nay chưa từng có". Đó là sự tương phản giữa một bên là gian nhà lao ẩm thấp, tối tăm bẩn thỉu, "một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân giận" với một bên là tấm lụa trắng tinh, căng phẳng và với ánh sáng của một bó đuốc tẩm dầu đang cháy rừng rực. "Ba đầu người chăm chú trên một tấm lụa bạch nguyên vẹn".

Nó là sự trái ngược của sự tàn bạọ, đánh đập, tra khảo dã man với ánh sáng của một nền văn minh, văn hóa. Đó còn là sự mâu thuẫn giữa bóng tối và ánh sáng, cái xấu và cái đẹp, cái ác và cái thiện, cái chết và cái sống, cái xấu xa đê tiện và cái trong trẻo cao thượng. Ngòi bút dựng cảnh, dựng người của Nguyễn Tuân rất giàu tính chất tạo hình với trình độ nghệ thuật điêu luyện, sắc sảo như Vũ Ngọc Phan nhận xét: "Gần đạt tới sự toàn mĩ".

Dưới ánh sáng của bó đuốc đỏ rực – bó đuốc của trí tuệ, của niềm tin, của hi vọng và trong khung cảnh thật nghiêm trang, thật thiêng liêng này Huấn Cao dồn hết tâm linh, sinh lực vào từng nét chữ. Ông không mảy may lưu ý gì đến cái xấu xa, cái hôi hám, bẩn thỉu đang tồn tại mà hoàn toàn bị thu hút, bị quyến rũ vào một sự vật: tấm lụa bạch nguyên vẹn. Đúng thế, ở đây chỉ có cái đẹp, cái cao thượng mới thực sự tồn tại. Chính tấm lụa trắng tinh này mà ông Huấn Cao đang cho ra đời những con chữ tuyệt tác ấy mới thực sự có sức mạnh. Ớ đây, không còn là một Huấn Cao tử tù nữa. Chỉ còn là một Huấn Cao tự do nhất, sống động nhất. Cái giá treo cổ kia cũng không còn nữa mà chỉ có cuộc sống vĩnh hằng của chân lí về cái đẹp. Ngôi sao sáng – Huấn Cao – đang phát quang bừng tỉnh cái không gian u tối, phá vỡ cái màn đêm ngự trị ngàn đời ở đây. Huấn Cao như đem đến nơi này một thế giới khác, thế giới văn hóa. Vẻ đẹp cao nhân đó đã làm cho "viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực". Tự nhiên, ở nhà ngục này có sự thay bậc, đổi ngôi, có sự chuyển hóa vị trí, vị thế xã hội của con người. Nó nổi lên một sự thật mà đầy tính lãng mạn. Giờ phút này và tại nơi đây không phải quản ngục làm chủ mà người tù làm chủ. Sức mạnh, quyền lực của cái đẹp và chân lí là thế. Cái đẹp và cái chân lí tồn tại trên đời, thể hiện sức mạnh quyền uy theo cách riêngcủa nó.

Nó không khuất phục người ta bằng bạo lực, nó chinh phục người ta bằng tự bản chất của nó. Nó không giày xéo, áp đặt con người để bắt người ta phải tuân theo nó, trái lại, nó vực con người ta vươn lên, đứng dậy, tự nguyện đi theo nó để hướng tới cái chân, thiện, mĩ, trở nên trong sáng và tốt đẹp hơn: Và ở đây, "cái đẹp đã lên ngôi thay thế cho cái xấu xa, thấp hèn, cái đẹp nâng đỡ con người” (Đôxtôiepxki). Cáỉ đẹp đăng quang, cái xấu đã phải chìm xuống nhường chỗ cho cái đẹp. Cái đẹp đã tồn tại, sẵn sàng và rất cần sự đánh thức cái Thiên lương (bản tính tốt đẹp sẵn có ở mỗi con người).

Huấn Cao cho chữ như chuyển giao một nhân cách – nhân cách tự do, chuyển giao cái đẹp để cái đẹp mãi mãi sinh sôi nảy nở, đi vào cõi bất tử vĩnh hằng. Hình tượng nhân vật Huấn Cao được khắc họa bằng rigòi bút lãng mạn cứ sừng sững, hiên ngang hiện lên như muốn cất bổng lên, phá vỡ chốn lao tù, phá vỡ cái cuộc sống đang tràn ngập màn đêm, ngột ngạt trì trệ: "Tôi bảo thực đấy, thầy quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã (…). Ở đây, khó giữ được thiên lương cho lành vững…".

Phải chăng đó là quan niệm thẩm mĩ của Huấn Cao, hay cũng chính là của tác giả Nguyễn Tuân: cái đẹp phải gắn với cái thiện, cái đẹp không thể ở chung với cái xấu, cái ác. Sự chân thành, bộc bạch giản dị đó của Huấn Cao đã khiến cho ngục quản cảm động vái người tù một cái và nói một lời thật cảm động: "Kẻ mê muội này xin bái lĩnh". Chính Cao Chu Thần cũng có một câu nói thật đẹp:

"Nhất sinh đè thủ bái mai hoa"

(Một đời chỉ biết cúi đầu vái lạy hoa mai).

Cái cúi đầu của quản ngục trước con người tài hoa, đầy dũng khí Huấn Cao này chẳng khác gì Cao Bá Quát cúi đầu trước hoa mai vậy.

Nói tóm lại, Huấn Cao là một con người tích tụ những phẩm chất tốt đẹp nhất. Tuy bị cầm tù về nhân thân nhưng lại rất tự do về nhân cách, đúng như Bác Hồ – vị Cha già kính yêu của dán tộc đã nói:

"Thân thể ở trong lao

Tinh thần ở ngoài lao

Muốn nên sự nghiệp lớn

Tinh thần càng phải cao"

Trước cái chết kề cận, cái chết giáp bên nhưng con người nhân, trí, dũng đó vẫn hiên ngang anh dũng, lạc quan, yêu đời, như chị Võ Thị Sáu – nữ chiến sĩ dũng cảm, anh hùng của dân tộc Việt Nam:

"Đi giữa hai hàng lính vẫn ung đung mỉm cười"

Hay nói khác đi, Huấn Cao dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân là biểu tượng cho cái đẹp trong bối cảnh lịch sử đầy rẫy những xấu xa, tội ác, biểu tượng cho Thiên lương. Con người sống vượt lên trên những hiện thực tầm thường tăm tối để tỏa sáng, để vĩnh cửu, để bất diệt, truyền cho người đời phẩm giá làm người, những phẩm giá tiêu biểu cho đạo lí dân tộc.

Chung qui lại, dựng nên hình tượng ông Huấn Cao với vẻ đẹp rực rỡ, tráng lệ giữa chốn lao tù ẩm thấp, chật chội, Nguyễn Tuân đã thể hiện niềm cảm phục sâu sắc đối với những anh hùng xả thân vì nghĩa lớn. Nhà văn đã sử dụng ngòi bút tả thực đầy kịch tính kết hợp việc khắc họa tính cách nhân vật và ngòi bút miêu tả phong cảnh nặng tính hiện thực lẫn lãng mạn. Những chi tiết lãng mạn trong truyện có lẽ là lời nhắn gửi của Nguyễn Tuân. Hãỵ vững tin vào cái đẹp như Biêlinski nhận xét về cảm hứng lãng mạn: "Cảm hứng lãng mạn là khát vọng đối với tất cả những đẹp đẽ và cao quí”. Có thể nói Chữ người tử tù với bút pháp sắc sảo khi dựng người dựng cảnh với ngôn ngữ văn xuôi giàu có và góc cạnh, với vẻ đẹp tuyệt vời của Huấn Cao, tác phẩm xứng đáng là một áng văn chương một thời vang bóng và nó mãi mãi "vang bóng" trong bạn đọc nhiều thời.

Thanh bình tổng hợp

Thống kê tìm kiếm

  • phân tích nhân vật huấn cao

Check Also

Bình giảng khổ đầu bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm

Bình giảng khổ đầu bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm

Bình giảng khổ đầu bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm Bài làm Thâm …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *